Hỏi: Người quyết định đầu tư hay chủ đầu tư duyệt dự toán chi phí khảo sát?

Người hỏi Lê Quang Tân - Thành phố Đà Nẵng

Chi tiết câu hỏi :

Kính đề nghị Bộ Xây dựng giải đáp giúp một số thắc mắc sau:

1. Theo quy định tại Mục 4 Nghị quyết số 108/NQ-CP ngày 17/7/2020 của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai Nghị định số 68/2019/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng: “Trường hợp cần thiết, người quyết định đầu tư có thể ủy quyền để chủ đầu tư thẩm định, phê duyệt chi phí khảo sát nhằm rút gọn thủ tục, trên cơ sở bảo đảm tiến độ, hiệu quả của dự án” và tại Khoản 4 Điều 1 Thông tư số 02/2020/TT-BXD ngày 20/7/2020 của Bộ Xây dựng sửa đổi, bổ sung một số điều của 4 thông tư có liên quan đến quản lý chi phí đầu tư xây dựng thì: “Trường hợp cần thiết, người quyết định đầu tư xem xét ủy quyền để chủ đầu tư thẩm định, phê duyệt dự toán chi phí khảo sát cùng với nhiệm vụ khảo sát”.

Như vậy theo các quy định này thì thẩm quyền phê duyệt dự toán chi phí khảo sát thuộc về người quyết định đầu tư.

Tuy nhiên tại Điểm c Khoản 1 Điều 76 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 quy định: “Chủ đầu tư có các quyền sau: Phê duyệt nhiệm vụ khảo sát xây dựng, phương án kỹ thuật khảo sát do tư vấn thiết kế hoặc do nhà thầu khảo sát lập và giao nhiệm vụ khảo sát cho nhà thầu khảo sát xây dựng”.

Theo Điểm d Khoản 3 Điều 12 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng thì: “Các nội dung của nhiệm vụ khảo sát xây dựng bao gồm: Khối lượng các loại công tác khảo sát xây dựng (dự kiến) và dự toán chi phí cho công tác khảo sát xây dựng”.

Từ các quy định này có thể xác định thẩm quyền phê duyệt dự toán chi phí khảo sát xây dựng thuộc về chủ đầu tư.

Mặt khác theo quy định tại Khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13: “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn”.

Như vậy về thẩm quyền phê duyệt dự toán chi phí khảo sát vẫn thực hiện theo Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 và Nghị định số 46/2015/NĐ-CP.

Kính đề nghị Bộ Xây dựng giải thích thêm về sự chưa thống nhất đối với “thẩm quyền phê duyệt dự toán chi phí khảo sát” giữa Nghị quyết số 108/NQ-CP và Thông tư số 02/2020/TT-BXD với Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 và Nghị định số 46/2015/NĐ-CP?   

2. Theo quy định tại Khoản 6 Điều 1 Thông tư số 02/2020/TT-BXD ngày 20/7/2020 của Bộ Xây dựng sửa đổi, bổ sung một số điều của 4 thông tư có liên quan đến quản lý chi phí đầu tư xây dựng thì: “Chủ đầu tư quyết định việc sử dụng chi phí dự phòng trong phạm vi chi phí dự phòng đã được người quyết định đầu tư phê duyệt khi xác định, cập nhật giá gói thầu xây dựng”.

Tuy nhiên theo quy định tại Khoản 2 Điều 5 Thông tư số 10/2015/TT-BKHĐT ngày 26/10/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định chi tiết về kế hoạch lựa chọn nhà thầu thì: “Giá gói thầu được tính đúng, tính đủ toàn bộ chi phí để thực hiện gói thầu, kể cả chi phí dự phòng (chi phí dự phòng trượt giá, chi phí dự phòng phát sinh khối lượng và chi phí dự phòng cho các khoản tạm tính (nếu có)), phí, lệ phí và thuế” và tại Mẫu số 03 (Mẫu Quyết định phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu) kèm theo Thông tư số 10/2015/TT-BKHĐT thì giá gói thầu không có ghi chú chi phí dự phòng là bao nhiêu.

Mặt khác, khi nhà thầu tham gia dự thầu và trúng thầu (trường hợp hợp đồng theo giá trọn gói) thì chi phí dự phòng đã phân bổ vào đơn giá dự thầu theo quy định tại Khoản 3 Điều 5 Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 6/5/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định chi tiết việc lập hồ sơ mời thầu xây lắp: “Đối với hợp đồng trọn gói, nhà thầu phải tính toán và phân bổ chi phí dự phòng vào trong giá dự thầu; không tách riêng phần chi phí dự phòng mà nhà thầu đã phân bổ trong giá dự thầu để xem xét, đánh giá trong quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu về tài chính, thương mại”.

Khi nhà thầu tham gia dự thầu và trúng thầu (trường hợp hợp đồng theo đơn giá cố định hoặc đơn giá điều chỉnh) thì chi phí dự phòng sẽ được thể hiện riêng trong hợp đồng theo quy định tại Khoản 4 Điều 5 Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT: “Đối với hợp đồng theo đơn giá cố định và hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh, khi đánh giá hồ sơ dự thầu về tài chính, thương mại thì chi phí dự phòng sẽ không được xem xét, đánh giá để so sánh, xếp hạng nhà thầu. Chi phí dự phòng sẽ được chuẩn xác lại trong quá trình thương thảo hợp đồng. Giá trúng thầu và giá hợp đồng phải bao gồm chi phí dự phòng; phần chi phí dự phòng này do chủ đầu tư quản lý và chỉ được sử dụng để thanh toán cho nhà thầu theo quy định trong hợp đồng khi có phát sinh”. Như vậy:

a) Đối với hợp đồng theo đơn giá cố định và hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh: “Chủ đầu tư quyết định việc sử dụng chi phí dự phòng trong phạm vi chi phí dự phòng đã được người quyết định đầu tư phê duyệt khi xác định, cập nhật giá gói thầu xây dựng” hay “Chủ đầu tư quyết định việc sử dụng chi phí dự phòng trong phạm vi chi phí dự phòng của hợp đồng”? 

b) Đối với trường hợp hợp đồng theo giá trọn gói, khi nhà thầu hoàn thành các nghĩa vụ theo đúng quy định hợp đồng thì nhà thầu được thanh toán số tiền bằng đúng giá trị ghi trong hợp đồng (bao gồm cả chi phí dự phòng) kể cả trong trường hợp không phát sinh về khối lượng hay trượt giá trong quá trình thực hiện có đúng không?

Bình luận(0)

Sắp xếp theo:

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
 
 
 
Protected by FormShield
Nhập mã bảo mật (*)    
Câu hỏi cùng lĩnh vực