Hỏi: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp sai quy định

Người hỏi Nguyễn Thu Hằng - Quận Đống Đa, TP. Hà Nội

Chi tiết câu hỏi :

Hiện nay tôi đang gặp vướng mắc liên quan đến vấn đề hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, rất mong được Quý Bộ giải đáp như sau:

- Gia đình tôi có diện tích ao hương hỏa, sử dụng từ nhiều đời nay. Gia đình tôi chưa thực hiện thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng trong Sổ địa chính năm 1960 và Sổ mục kê năm 1975 đều ghi nhận diện tích đất ao hương hỏa này thuộc quyền sử dụng của gia đình tôi (có ghi tên người sử dụng đất là ông tôi).

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP “Các giấy tờ khác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 100 của Luật Đất đai có tên người sử dụng đất, bao gồm: 1. Sổ mục kê đất, sổ kiến điền lập trước ngày 18 tháng 12 năm 1980”.

Do vậy, tôi xác định Sổ địa chính 1960 và Sổ mục kê năm 1975 có tên người sử dụng đất là gia đình tôi (tên của ông tôi) nên thuộc trường hợp có “Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ” được quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai.

- Trong quá trình sử dụng thửa đất nêu trên, gia đình tôi phát hiện diện tích đất của gia đình tôi đã bị 2 hộ xung quanh lấn chiếm. Sự việc đã được khiếu nại tại UBND xã, UBND huyện nhưng nhiều năm không được giải quyết thỏa đáng. Sau đó, gia đình tôi được biết UBND huyện đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 2 hộ này, bao gồm cả phần đất các hộ này đã lấn chiếm của gia đình tôi nên gia đình tôi đã khiếu nại tới UBND huyện và yêu cầu hủy các Giấy chứng nhận đã cấp cho 2 hộ có lấn chiếm đất của gia đình tôi.

- Vào tháng 12/2018 và tháng 10/2019, trong quá trình giải quyết đơn thư khiếu nại của gia đình tôi, thanh tra UBND quận đã tiến hành xác minh và xác định việc UBND huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 2 hộ trong thời gian đang có tranh chấp đất đai là chưa bảo đảm trình tự thủ tục về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tuy nhiên, UBND huyện căn cứ Khoản 5 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và cho rằng không thể hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho 2 hộ này vì các hộ này sau khi được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện giao dịch chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất và hướng dẫn gia đình tôi khởi kiện tại Tòa án để được giải quyết.

- Khoản 5 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP đã được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 148/2020/NĐ-CP quy định “Nhà nước không thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật trong các trường hợp quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai nếu người được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và đã được giải quyết theo quy định của pháp luật. Việc xử lý thiệt hại do việc cấp Giấy chứng nhận trái pháp luật gây ra thực hiện theo quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân. Người có hành vi vi phạm dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận trái pháp luật bị xử lý theo quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Luật Đất đai”.

- Khoản 6 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định: Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân đã được thi hành.

Tôi xin hỏi:

(1) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp không đúng quy định của pháp luật nhưng thuộc trường hợp Nhà nước không thu hồi Giấy chứng nhận quy định tại Khoản 5 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP thì có được giải quyết theo quy định tại Khoản 6 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP không?

(2) Nếu không thuộc trường hợp được giải quyết theo Khoản 6 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP thì gia đình tôi có thể thực hiện thủ tục gì để bảo đảm quyền lợi của mình?

Bình luận(0)

Sắp xếp theo:

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
 
 
 
Protected by FormShield
Nhập mã bảo mật (*)    
Câu hỏi cùng lĩnh vực