Những câu hỏi chờ được giải đáp

Lao động - Tiền lương

Tôi hiện tại đang là công chức tại Sở Tư pháp. Quá trình công tác như sau: -Từ tháng 11/2013- Tháng 10/2014: Viên chức tập sự mã ngạch chuyên viên (01.003) làm phụ trách kế toán tại Hội Khuyến học huyện. -Từ tháng 11/2014 đến tháng 8/2017: Viên chức, bổ nhiệm ngạch chuyên viên (01.003) làm phụ trách kế toán tại Hội Khuyến học huyện. -Từ tháng 9/2017 đến nay: công chức tại Sở Tư pháp, được phân công nhiệm vụ là kế toán viên. Do có thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Thông tư 13/2010/TT-BNV nên được bổ nhiệm vào ngạch và xếp lương, mã ngạch kế toán viên (06.031), được giữ thời gian xét nâng bậc lương lần sau từ tháng 11/2014. Hiện nay tôi xin được chuyển công tác từ Sở Tư pháp sang phòng công chứng là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Tư pháp thì việc thực hiện chuyển đổi từ công chức sang viên chức theo hình thức điều động hay không? Thủ tục do Sở Tư pháp hay Sở Nội vụ thực hiện? Khi được điều động về phòng công chứng với vị trí việc làm là chuyên viên pháp lý (đạt yêu cầu về trình độ tại vị trí chuyên viên pháp lý - cử nhân Luật) theo đề án việc làm của Phòng thì tôi có phải thực hiện chế độ tập sự hay không? hay chỉ thực hiện chuyển đổi từ ngạch kế toán viên sang chức danh nghề nghiệp chuyên viên pháp lý và được giữ nguyên hệ số lương hiện hưởng là 3,00?
Xem chi tiết
Lê Nga

Bảo hiểm xã hội - Bảo hiểm y tế - Bảo hiểm thất nghiệp

Xin hỏi chứng chỉ B1(PET) do Cambrige cấp thì có được thi nâng ngạch chuyên viên chính không và chứng chỉ ấy có được sử dụng trong hệ thống cơ quan nhà nước không?
Xem chi tiết
Nguyễn Hữu Quốc

Lao động - Tiền lương

Tôi tên là Hoàng Thu Thủy, công tác tại Trung tâm Y tế huyện Bảo Lạc. Tháng 8 năm 2013 tôi được tuyển dụng vào ngạch lưu trữ viên trình độ cao đẳng, mã ngạch 02a014, hệ số lương 2,10. Đến tháng 8/2014 được bổ nhiệm vào ngạch chính thức. Tháng 8/2017 tôi được nâng lương lên bậc 2 (2,41). Tháng 11 năm 2019, Sở Nội vụ tỉnh Cao Bằng có công văn gửi Sở Y tế về việc rà soát và bổ nhiệm ngạch mới. Theo Thông tư số 13/2014/TT - BNV ngày 31/10/2014 của Bộ Nội vụ quy định về mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành lưu trữ, tôi được bổ nhiệm và xếp lương mới như sau: - chức danh nghề nghiệp: Lưu trữ viên hạng IV, mã số: V.01.02.02, bậc 4 hệ số 2,46, thời gian tính nâng lương lần sau kể từ ngày 1/2/2018. Theo tôi được biết mã số V.01.02.02 là thuộc chức danh lưu trữ viên hạng III. Bạn bè tôi cũng được tuyển dụng và cùng thời điểm nhưng công tác trong ngành giáo dục (các trường học) thì vẫn được bổ nhiệm và xếp lương theo hệ cao đẳng chỉ đổi mã số ngạch từ 02a014 thành V.01.02.02 và hưởng hệ số lương đến thời điểm bây giờ là 2,72 còn tôi hưởng 2,66 của bậc trung cấp. Như vậy tôi có 1 thắc mắc là bổ nhiệm và xếp lương theo chức danh nghề nghiệp của tôi có đúng không?-
Xem chi tiết
Hoàng Thu Thủy

Lao động - Tiền lương

Ngày 12/12/2012 tôi được Sở Nội vụ tỉnh Bắc Giang tuyển dụng viên chức ngạch nhân viên theo hình thức hợp đồng làm việc không thời hạn, mã số ngạch 01a003 theo Quyết định số 2612/QĐ-SNV. Sau đó tôi được UBND huyện Lục Nam điều động đến công tác tại trường TH&THCS Bình Sơn, làm nhiệm vụ nhân viên hành chính. Do nhà trường đã có kế toán nên tại đây tôi được phân công làm nhiệm vụ công tác văn thư kể từ ngày 1/1/2013 đến 15/11/2014. Sau đó tôi được UBND huyện Lục Nam điều động về trường mầm non Đông Phú làm nhiệm vụ kế toán kể từ ngày 16/11/2014 đến nay theo Quyết định số 6114/QĐ-UBND ngày 3/11/2014. Và đến thời điểm hiện tại tôi đã nhiệm vụ kế toán được 6 năm 4 tháng. Năm nay theo công văn số 145/SNV-CCVC của Sở Nội vụ ngày 29/1/2021 về việc lập danh sách viên chức đủ điều kiện tiêu chuẩn thăng hạng trong đó có thăng hạng của kế toán viên trung cấp lên kế toán viên, tôi đã lập danh sách và làm đầy đủ hồ sơ gửi lên Phòng Nội vụ huyện Lục Nam để xét duyệt nhưng sau đó hồ sơ của tôi lại bị chuyên viên Phòng Nội vụ báo lại là không hợp lệ vì mã ngạch viên chức của tôi không phải mã ngạch kế toán. Do đó Sở Nội vụ Bắc Giang không chấp nhận hồ sơ của tôi trừ khi tôi chuyển được sang mã ngạch của kế toán 06.032. Trong khi đó rõ ràng theo Quyết định số 6114/QĐ-UBND ngày 3/11/2014 ghi rõ phân công tôi đến làm nhiệm vụ kế toán tại trường mầm non Đông Phú từ ngày 16/11/2014 đến nay và tôi đã thực làm nhiệm vụ kế toán được 6 năm 4 tháng. Trong thời gian kể từ đó đến nay tôi luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và cuối năm luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ và bản thân tôi tốt nghiệp cao đẳng, đại học đều là chuyên ngành Tài chính – Ngân Hàng. Vậy tôi muốn hỏi khi UBND huyện điều động tôi đang làm nhiệm vụ văn thư sang làm kế toán nhưng lại không chuyển mã ngạch cho tôi từ văn Thư (01a003) sang mã ngạch kế toán (06.032) là đúng hay là sai và việc Sở Nội vụ tỉnh Bắc Giang không chấp nhận hồ sơ của tôi như vậy là đúng hay sai và tôi phải làm gì để được chuyển sang mã ngạch kế toán trung cấp, quy trình như thế nào và mất thời gian bao lâu?
Xem chi tiết
Nguyễn Thị Liên

Giao thông - Xây dựng - Tài nguyên - Môi trường

Thực hiện đề án theo Quyết định số 661/QĐ-TTg, gia đình tôi được xã vận động và xung phong nhận đất trồng rừng trên cát. Đến tháng 12/2002 thì được UBND huyện cấp GCNQSD đất, là đất rừng sản xuất 50 năm, diện tích 10.000m2. Từ đó đến nay, không có tranh chấp, sử dụng đúng mục đích, không vi phạm pháp luật đất đai, sử dụng ổn định và chưa có thu nhập.

Tháng 7/2020, UBND huyện thông báo và có quyết định thu hồi GCNQSDĐ và thông báo cho gia đình tôi chuyển sang thuê đất theo Điều 5 Nghị định số 163/1999/NĐ-CP của Chính phủ với lý do là huyện đã cấp sai đối tượng theo Điều 4 Nghị định số 163/1999/NĐ-CP vì tại thời điểm cấp đất, 2 vợ chồng tôi đã kê khai là vợ chồng làm công nhân viên chức trong hồ sơ xin giao đất.

Theo tôi tìm hiểu về pháp luật đất đai thì căn cứ vào Khoản 61 Điều 2 Nghị đinh số 01/2017/NĐ-CP về bổ sung Điều 100a của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai thì theo Khoản 7 của Điều 100a bổ sung, đất nhà tôi đã được Nhà nước cấp đất trước ngày 1/7/2004 và hiện nay sử dụng phù hợp với quy hoạch sử dụng đất thì Nhà nước không thu hồi GCNSD đất đã cấp dù bị cấp sai đối tượng.

Vào tháng 12/2002, gia đình tôi có 5 khẩu, có 3 khẩu hưởng lương thường xuyên, 2 khẩu là lao động tự do đều trên 18 tuổi. Từ đó đến nay gia đình tôi luôn có một thành viên không được hưởng lương thường xuyên nên phù hợp Điểm b Khoản 2 và Điểm b Khoản 3 Điều 3 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT, là căn cứ để gia đình tôi phù hợp để được giao đất theo Điều 54 Luật Đất Đai 2013 quy định tại Điểm d Khoản 3 Điều 3 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT, không phải bị chuyển thành đối tượng thuê đất theo Điều 56 Luật Đất đai 2013.

Vì vậy theo những căn cứ về pháp luật mà tôi tìm hiểu thì:

- Gia đình tôi không thuộc diện bị thu hồi đất căn cứ theo Khoản 7 Điều 100a được bổ sung cho Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (bổ sung trong Khoản 61 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP).

- Gia đình tôi cũng phù hợp vào đối tượng giao đất không thu tiền sử dụng đất theo Điều 54 Luật Đất đai và không phải bị chuyển đổi thành đối tượng phải thuê đất theo Điều 56 luật Đất đai được hướng dẫn theo Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT vì vậy không phải bị thu hồi GCNQSDĐ và chuyển sang hình thức thuê đất.

Tôi xin hỏi với quyết định thu hồi GCNQSDĐ và yêu cầu chúng tôi chuyển sang hình thức thuê đất của UBND huyện có đúng với pháp luật đất đai hiện nay? Gia đình tôi nên làm gì để bảo vệ được quyền lợi của mình?
Xem chi tiết
Hoàng Duy Hào

Giao thông - Xây dựng - Tài nguyên - Môi trường

Gia đình tôi đang sử dụng 9,5ha đất nông nghiệp (gồm đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối) tại TP. Bà Rịa.

9,5ha nêu trên đã được cấp GCNQSD đất năm 2006 với mỗi loại là: Đất nuôi trồng thủy sản: 5,5ha; đất làm muối: 4ha.

Nay gia đình tôi làm thủ tục cấp đổi GCN thì lại bị xác định có 3,5ha là đất nông nghiệp vượt hạn điền, Nhà nước chỉ công nhận trong hạn điền là 06ha.

Vậy xin giải thích giúp tôi:

Theo Luật Đất đai 2003 và Nghị định số 181/2004/NĐ-CP về hạn mức cấp GCNQSD đất nông nghiệp thì có tính riêng từng loại đất hay không?

Cụ thể:

- Đất nuôi trồng thủy sản có hạn mức riêng (03ha theo Luật + 03ha đất khai hoang tại thời điểm cấp GCN năm 2006) và đất làm muối có hạn mức riêng (03ha theo Luật + 03ha đất khai hoang tại thời điểm cấp GCN năm 2006) - Vậy gia đình tôi được công nhận tổng 12ha/02 loại đất.

- Hoặc cả 02 loại đất chỉ được tính 01 hạn mức (tổng 03ha theo Luật +03ha đất khai hoang tại thời điểm cấp GCN năm 2006) - Vậy gia đình tôi được công nhận tổng 06ha/02 loại đất?
Xem chi tiết
Dương Văn Khánh

Giao thông - Xây dựng - Tài nguyên - Môi trường

Gia đình tôi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) năm 2003, nguồn gốc đất do nhận từ thừa kế của bố mẹ (đất trước năm 1975), diện tích theo GCNQSDĐ là 270 m2 thuộc thửa đất số 35, tờ bản đồ số 5, mục đích sử dụng đất khu dân cư, trong đó có 100m2 đất ở, 170 m2 đất vườn tạp, hàng năm gia đình tôi đều nộp thuế đất ở theo đúng diện tích ghi trên GCNQSDĐ là 270m2, trên đất có 2 nhà xây năm 2000, diện tích khoảng 250m2. Theo phương án hỗ trợ đền bù của gia đình tôi chỉ tính 100m2 là đất ở, còn lại đất vườn tạp liền kề là 170m2 đền bù theo giá đất nông nghiệp, hiện tại gia đình tôi chỉ có mảnh đất này là duy nhất để ở, ngoài ra không có chỗ ở nào khác (hạn mức đất ở của địa phương là 300m2).

Đất của tôi mục đích sử dụng đất khu dân cư là đất được xác định chủ yếu để xây dựng nhà ở theo quy định tại Điều 52 Luật Đất đai 1993 và là đối tượng chịu thuế đất ở tại Điểm a Khoản 1 Mục I của Thông tư số 83-TC/TCT ngày 07/10/1994 của Bộ Tài chính quy định chi tiết thi hành về Pháp lệnh nhà, đất; hàng năm gia đình tôi đều nộp thuế đất ở đầy đủ (có biên lai thu thuế). Khi thu hồi đất của tôi có mục đích sử dụng là đất khu dân cư mà đền bù bằng đất nông nghiệp trái với Khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai 2013 về nguyên tắc bồi thường đất “Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi”.

Luật Đất đai 2013: Điều 10 “phân loại đất” đất vườn tạp không nằm trong nhóm đất nông nghiệp; tại Khoản 1 Điều 103 “Đất vườn, ao của hộ gia đình, cá nhân được xác định là đất ở phải trong cùng một thửa đất đang có nhà ở” nhưng theo phân loại đất nông nghiệp của Luật Đất đai 2013, các Nghị định và Thông tư hướng dẫn thi hành không có quy định cụ thể về việc xác định loại đất, chính sách bồi thường, hỗ trợ đối với loại đất này rõ ràng.

Tại Khoản 1 Điều 10 Thông tư số 27/2018/TT-BTNMT ngày 14/12/2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất quy định đất khu dân cư nông thôn: Là các loại đất khu vực được xác định chủ yếu để xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình công cộng phục vụ đời sống, sinh hoạt của người dân; đất vườn, ao gắn liền với nhà ở và các loại đất khác thuộc phạm vi ranh giới khu dân cư nông thôn…

Vậy cơ quan đền bù tôi bằng đất nông nghiệp có đúng không? Họ áp dụng Điều 11 Luật Đất đai 2013, không áp dụng Khoản 6 Điều 103 dẫn đến người có GCNQSDĐ, nộp thuế nhà đất đầy đủ lại bị thua thiệt hơn người không có GCNQSDĐ.

Xem chi tiết
Trần Hữu Đức

Giao thông - Xây dựng - Tài nguyên - Môi trường

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Đắk Nông đề xuất nhiều dự án xin xây dựng điện mặt trời trên lòng hồ thủy điện nhằm tận dụng tốt nguồn tài nguyên.

Tuy nhiên, hiện nay áp dụng theo Công văn số 4007/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 15/9/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì các diện tích thuộc lòng hồ thủy điện, UBND tỉnh Đắk Nông đã thực hiện việc giao đất cho các chủ đầu tư công trình thủy điện để quản lý và kết hợp sử dụng vào mục đích đất phi nông nghiệp (theo Điều 163 Luật Đất đai năm 2013).

Mặt khác, theo quy định Khoản 39 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 6/1/2017 của Chính phủ quy định bổ sung Điều 57a Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, Cụ thể:

“1. UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện quyết định cho thuê đất có mặt nước là hồ thủy điện, thủy lợi để kết hợp sử dụng với mục đích phi nông nghiệp, nuôi trồng, khai thác thủy sản theo thẩm quyền quy định tại Điều 59 của Luật Đất đai.

2. Việc khai thác, sử dụng đất có mặt nước là hồ thủy điện, thủy lợi vào mục đích phi nông nghiệp, nuôi trồng, khai thác thủy sản phải bảo đảm không ảnh hưởng đến mục đích sử dụng chủ yếu đã được xác định và phải tuân theo quy định của các pháp luật khác có liên quan”.

Xin hỏi áp dụng việc cho thuê đất đối với các trường hợp trên cụ thể như thế nào?

Trường hợp 1: Áp dụng theo Khoản 39 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 6/1/2017: UBND tỉnh quyết định việc thu hồi diện tích đất đã giao đất cho các chủ đầu tư công trình thủy điện để quản lý và kết hợp sử dụng vào mục đích đất phi nông nghiệp (theo Điều 163, Luật Đất đai năm 2013) để cho tổ chức, đơn vị đầu tư xây dựng điện mặt trời trên mặt hồ thủy điện thuê đất có mặt nước là hồ thủy điện, thủy lợi để kết hợp sử dụng với mục đích phi nông nghiệp.

Trường hợp 2: Cơ quan Nhà nước cấp giấy phép và cho thuê dịch vụ thủy lợi theo quy định của Luật Thủy lợi, Nghị định số 67/2018/NĐ-CP và Nghị định số 114/2018/NĐ-CP?
Xem chi tiết
Trần Văn Duy

Giao thông - Xây dựng - Tài nguyên - Môi trường

Hiện nay tôi đang gặp vướng mắc liên quan đến vấn đề hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, rất mong được Quý Bộ giải đáp như sau:

- Gia đình tôi có diện tích ao hương hỏa, sử dụng từ nhiều đời nay. Gia đình tôi chưa thực hiện thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng trong Sổ địa chính năm 1960 và Sổ mục kê năm 1975 đều ghi nhận diện tích đất ao hương hỏa này thuộc quyền sử dụng của gia đình tôi (có ghi tên người sử dụng đất là ông tôi).

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP “Các giấy tờ khác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 100 của Luật Đất đai có tên người sử dụng đất, bao gồm: 1. Sổ mục kê đất, sổ kiến điền lập trước ngày 18 tháng 12 năm 1980”.

Do vậy, tôi xác định Sổ địa chính 1960 và Sổ mục kê năm 1975 có tên người sử dụng đất là gia đình tôi (tên của ông tôi) nên thuộc trường hợp có “Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ” được quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai.

- Trong quá trình sử dụng thửa đất nêu trên, gia đình tôi phát hiện diện tích đất của gia đình tôi đã bị 2 hộ xung quanh lấn chiếm. Sự việc đã được khiếu nại tại UBND xã, UBND huyện nhưng nhiều năm không được giải quyết thỏa đáng. Sau đó, gia đình tôi được biết UBND huyện đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 2 hộ này, bao gồm cả phần đất các hộ này đã lấn chiếm của gia đình tôi nên gia đình tôi đã khiếu nại tới UBND huyện và yêu cầu hủy các Giấy chứng nhận đã cấp cho 2 hộ có lấn chiếm đất của gia đình tôi.

- Vào tháng 12/2018 và tháng 10/2019, trong quá trình giải quyết đơn thư khiếu nại của gia đình tôi, thanh tra UBND quận đã tiến hành xác minh và xác định việc UBND huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 2 hộ trong thời gian đang có tranh chấp đất đai là chưa bảo đảm trình tự thủ tục về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tuy nhiên, UBND huyện căn cứ Khoản 5 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và cho rằng không thể hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho 2 hộ này vì các hộ này sau khi được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện giao dịch chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất và hướng dẫn gia đình tôi khởi kiện tại Tòa án để được giải quyết.

- Khoản 5 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP đã được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 148/2020/NĐ-CP quy định “Nhà nước không thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật trong các trường hợp quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai nếu người được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và đã được giải quyết theo quy định của pháp luật. Việc xử lý thiệt hại do việc cấp Giấy chứng nhận trái pháp luật gây ra thực hiện theo quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân. Người có hành vi vi phạm dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận trái pháp luật bị xử lý theo quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Luật Đất đai”.

- Khoản 6 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định: Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân đã được thi hành.

Tôi xin hỏi:

(1) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp không đúng quy định của pháp luật nhưng thuộc trường hợp Nhà nước không thu hồi Giấy chứng nhận quy định tại Khoản 5 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP thì có được giải quyết theo quy định tại Khoản 6 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP không?

(2) Nếu không thuộc trường hợp được giải quyết theo Khoản 6 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP thì gia đình tôi có thể thực hiện thủ tục gì để bảo đảm quyền lợi của mình?

Xem chi tiết
Nguyễn Thu Hằng

Giao thông - Xây dựng - Tài nguyên - Môi trường

Đơn vị chúng tôi là Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, đang quản lý, vận hành, khai thác các công trình cấp nước nông thôn (bao gồm cả thị trấn) hiện đang hoạt động ổn định và hiệu quả.

Tuy nhiên, thực hiện theo Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-BXD, ngày 27/4/2020 của Bộ xây dựng theo Điều 29 ghi: "Đối với địa bàn đã có tổ chức, cá nhân đang thực hiện dịch vụ cấp nước thì tổ chức, cá nhân đó được tiếp tục thực hiện dịch vụ cấp nước trên địa bàn". Đây cũng là nội dung theo Điểm 5 Khoản 3 Điều 1 Nghị định số 98/2019/NĐ-CP ngày 27/12/2019 của Chỉnh phủ.

Vậy cho tôi hỏi, đơn vị chúng tôi là Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có được xem là "tổ chức" theo 2 văn bản hướng dẫn nêu trên hay không?

Xem chi tiết
Vũ Thành Trung