Những câu hỏi chờ được giải đáp

Lao động - Tiền lương

Tôi tên là: Lê Vĩnh Phong, sinh ngày: 30/08/1985, hiện đang công tác tại Phòng Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo 1 – Thanh tra tỉnh Khánh Hòa. Tôi đã trúng tuyển vào ngạch Chuyên viên (01.003) trong kỳ thi tuyển công chức hành chính tỉnh Khánh Hòa năm 2019, được bố trí đến nhận công tác tại Thanh tra tinh kể từ ngày 1/8/2020 tại Quyết định số 252/QĐ-SNV ngày 28/7/2020 của Sở Nội Vụ. Sau khi được Thanh tra tỉnh tiếp nhận và bố trí công tác tại Phòng Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo 1, qua nghiên cứu Khoản 12 Điều 1 Nghị định số 161/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018 của Chính phủ tôi đã có đơn gửi Lãnh đạo Thanh tra tỉnh xin miễn chế độ tập sự và đã được miễn tập sự tại Quyết định số 109/QĐ-TTT ngày 13/8/2020 của Chánh Thanh tra tỉnh vì đủ điều kiện như sau:
- Đã có thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và được bố trí làm việc đúng ngành, nghề đào tạo: Tháng 4/2012 tôi được tuyển dụng vào Công ty TNHH Indochina Stone Việt Nam (viết tắt là Công ty IBS), địa chỉ: KP Chiêu Liêu, Tân Đông Hiệp, Dĩ An, Bình Dương và được bố trí làm việc tại Phòng Quản lý dự án 1 của trụ sở công ty IBS tại số 7 Thanh Đa, phường 27, Q. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh. Trong thời gian công tác, tôi đã đã có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ tháng 7/2012 đến hết tháng 10/2014 tương ứng 28 tháng và lớn hơn theo quy định 12 tháng tập sự đối với trưởng hợp tuyển dụng vào công chức loại C.
- Đã có thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và được bố trí làm việc đúng chuyên môn nghiệp vụ trước đây đã đảm nhiệm: Tôi đã có thời gian 26 tháng (từ tháng 11/2014 đến tháng 12/2016) làm công tác thanh tra lĩnh vực đầu tư và xây dựng cơ bản tại bộ phận Thanh tra Kinh tế - Xã hội, Thanh tra thành phố Nha Trang 42 tháng (từ tháng 1/2017 đến tháng 7/2020) công tác tại vị trí này tại phòng Phòng Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo 1, Thanh tra tỉnh Khánh Hòa và có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời gian trên.
Tổng thời đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là 68 tháng và lớn hơn theo quy định 12 tháng tập sự đối với trưởng hợp tuyển dụng vào công chức loại C. Tháng 2/2021, sau khi hoàn thành lớp bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên và được Trường Chính trị tỉnh Khánh Hòa cấp chứng chỉ, Thanh tra tỉnh Khánh Hòa đã yêu cầu tối hoàn chỉnh hồ sơ và có công văn đề nghị Sở Nội vụ tỉnh Khánh Hòa xem xét, thẩm đinh để bổ nhiệm ngạch đối với tôi. Ngày 01/3/2021, Sở Nội vụ có văn bản số 387/SNV-TCBC-CCVC về việc bổ nhiệm vào ngạch công chức đảm bảo thời gian tính từ ngày tuyển dụng: "Thời gian xem xét bổ nhiệm vào ngạch công chức ở ngạch chuyên viên là đủ 12 tháng kể từ ngày nhận quyết định tuyển dụng công chức hành chính".
Căn cứ Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Nghị định số 138/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, tôi không đồng ý với nội dung trả lời của Sở Nội vụ tỉnh Khánh Hòa. Do đó, tôi xin hỏi:
1. Việc quy định đủ 12 tháng kể từ ngày nhận quyết định tuyển dụng, công chức mới được bổ nhiệm ngạch là đúng hay sai và được quy định cụ thể ở văn bản quy phạm pháp luật nào?
2. Trường hợp tôi đủ điều kiện và đã được miễn tập sự có được xem là hoàn thành tập sư hay không vì hiện nay Luật Cán bộ, công chức và Nghị định số 138/2020/NĐ-CP chỉ quy định việc bổ nhiệm ngạch đối với trường hợp hoàn thành chế độ tập sự.
Xem chi tiết
Lê Vĩnh Phong

Giao thông - Xây dựng - Tài nguyên - Môi trường

Thực hiện đề án theo Quyết định số 661/QĐ-TTg, gia đình tôi được xã vận động và xung phong nhận đất trồng rừng trên cát. Đến tháng 12/2002 thì được UBND huyện cấp GCNQSD đất, là đất rừng sản xuất 50 năm, diện tích 10.000m2. Từ đó đến nay, không có tranh chấp, sử dụng đúng mục đích, không vi phạm pháp luật đất đai, sử dụng ổn định và chưa có thu nhập.

Tháng 7/2020, UBND huyện thông báo và có quyết định thu hồi GCNQSDĐ và thông báo cho gia đình tôi chuyển sang thuê đất theo Điều 5 Nghị định số 163/1999/NĐ-CP của Chính phủ với lý do là huyện đã cấp sai đối tượng theo Điều 4 Nghị định số 163/1999/NĐ-CP vì tại thời điểm cấp đất, 2 vợ chồng tôi đã kê khai là vợ chồng làm công nhân viên chức trong hồ sơ xin giao đất.

Theo tôi tìm hiểu về pháp luật đất đai thì căn cứ vào Khoản 61 Điều 2 Nghị đinh số 01/2017/NĐ-CP về bổ sung Điều 100a của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai thì theo Khoản 7 của Điều 100a bổ sung, đất nhà tôi đã được Nhà nước cấp đất trước ngày 1/7/2004 và hiện nay sử dụng phù hợp với quy hoạch sử dụng đất thì Nhà nước không thu hồi GCNSD đất đã cấp dù bị cấp sai đối tượng.

Vào tháng 12/2002, gia đình tôi có 5 khẩu, có 3 khẩu hưởng lương thường xuyên, 2 khẩu là lao động tự do đều trên 18 tuổi. Từ đó đến nay gia đình tôi luôn có một thành viên không được hưởng lương thường xuyên nên phù hợp Điểm b Khoản 2 và Điểm b Khoản 3 Điều 3 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT, là căn cứ để gia đình tôi phù hợp để được giao đất theo Điều 54 Luật Đất Đai 2013 quy định tại Điểm d Khoản 3 Điều 3 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT, không phải bị chuyển thành đối tượng thuê đất theo Điều 56 Luật Đất đai 2013.

Vì vậy theo những căn cứ về pháp luật mà tôi tìm hiểu thì:

- Gia đình tôi không thuộc diện bị thu hồi đất căn cứ theo Khoản 7 Điều 100a được bổ sung cho Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (bổ sung trong Khoản 61 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP).

- Gia đình tôi cũng phù hợp vào đối tượng giao đất không thu tiền sử dụng đất theo Điều 54 Luật Đất đai và không phải bị chuyển đổi thành đối tượng phải thuê đất theo Điều 56 luật Đất đai được hướng dẫn theo Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT vì vậy không phải bị thu hồi GCNQSDĐ và chuyển sang hình thức thuê đất.

Tôi xin hỏi với quyết định thu hồi GCNQSDĐ và yêu cầu chúng tôi chuyển sang hình thức thuê đất của UBND huyện có đúng với pháp luật đất đai hiện nay? Gia đình tôi nên làm gì để bảo vệ được quyền lợi của mình?
Xem chi tiết
Hoàng Duy Hào

Giao thông - Xây dựng - Tài nguyên - Môi trường

Gia đình tôi đang sử dụng 9,5ha đất nông nghiệp (gồm đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối) tại TP. Bà Rịa.

9,5ha nêu trên đã được cấp GCNQSD đất năm 2006 với mỗi loại là: Đất nuôi trồng thủy sản: 5,5ha; đất làm muối: 4ha.

Nay gia đình tôi làm thủ tục cấp đổi GCN thì lại bị xác định có 3,5ha là đất nông nghiệp vượt hạn điền, Nhà nước chỉ công nhận trong hạn điền là 06ha.

Vậy xin giải thích giúp tôi:

Theo Luật Đất đai 2003 và Nghị định số 181/2004/NĐ-CP về hạn mức cấp GCNQSD đất nông nghiệp thì có tính riêng từng loại đất hay không?

Cụ thể:

- Đất nuôi trồng thủy sản có hạn mức riêng (03ha theo Luật + 03ha đất khai hoang tại thời điểm cấp GCN năm 2006) và đất làm muối có hạn mức riêng (03ha theo Luật + 03ha đất khai hoang tại thời điểm cấp GCN năm 2006) - Vậy gia đình tôi được công nhận tổng 12ha/02 loại đất.

- Hoặc cả 02 loại đất chỉ được tính 01 hạn mức (tổng 03ha theo Luật +03ha đất khai hoang tại thời điểm cấp GCN năm 2006) - Vậy gia đình tôi được công nhận tổng 06ha/02 loại đất?
Xem chi tiết
Dương Văn Khánh

Giao thông - Xây dựng - Tài nguyên - Môi trường

Gia đình tôi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) năm 2003, nguồn gốc đất do nhận từ thừa kế của bố mẹ (đất trước năm 1975), diện tích theo GCNQSDĐ là 270 m2 thuộc thửa đất số 35, tờ bản đồ số 5, mục đích sử dụng đất khu dân cư, trong đó có 100m2 đất ở, 170 m2 đất vườn tạp, hàng năm gia đình tôi đều nộp thuế đất ở theo đúng diện tích ghi trên GCNQSDĐ là 270m2, trên đất có 2 nhà xây năm 2000, diện tích khoảng 250m2. Theo phương án hỗ trợ đền bù của gia đình tôi chỉ tính 100m2 là đất ở, còn lại đất vườn tạp liền kề là 170m2 đền bù theo giá đất nông nghiệp, hiện tại gia đình tôi chỉ có mảnh đất này là duy nhất để ở, ngoài ra không có chỗ ở nào khác (hạn mức đất ở của địa phương là 300m2).

Đất của tôi mục đích sử dụng đất khu dân cư là đất được xác định chủ yếu để xây dựng nhà ở theo quy định tại Điều 52 Luật Đất đai 1993 và là đối tượng chịu thuế đất ở tại Điểm a Khoản 1 Mục I của Thông tư số 83-TC/TCT ngày 07/10/1994 của Bộ Tài chính quy định chi tiết thi hành về Pháp lệnh nhà, đất; hàng năm gia đình tôi đều nộp thuế đất ở đầy đủ (có biên lai thu thuế). Khi thu hồi đất của tôi có mục đích sử dụng là đất khu dân cư mà đền bù bằng đất nông nghiệp trái với Khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai 2013 về nguyên tắc bồi thường đất “Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi”.

Luật Đất đai 2013: Điều 10 “phân loại đất” đất vườn tạp không nằm trong nhóm đất nông nghiệp; tại Khoản 1 Điều 103 “Đất vườn, ao của hộ gia đình, cá nhân được xác định là đất ở phải trong cùng một thửa đất đang có nhà ở” nhưng theo phân loại đất nông nghiệp của Luật Đất đai 2013, các Nghị định và Thông tư hướng dẫn thi hành không có quy định cụ thể về việc xác định loại đất, chính sách bồi thường, hỗ trợ đối với loại đất này rõ ràng.

Tại Khoản 1 Điều 10 Thông tư số 27/2018/TT-BTNMT ngày 14/12/2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất quy định đất khu dân cư nông thôn: Là các loại đất khu vực được xác định chủ yếu để xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình công cộng phục vụ đời sống, sinh hoạt của người dân; đất vườn, ao gắn liền với nhà ở và các loại đất khác thuộc phạm vi ranh giới khu dân cư nông thôn…

Vậy cơ quan đền bù tôi bằng đất nông nghiệp có đúng không? Họ áp dụng Điều 11 Luật Đất đai 2013, không áp dụng Khoản 6 Điều 103 dẫn đến người có GCNQSDĐ, nộp thuế nhà đất đầy đủ lại bị thua thiệt hơn người không có GCNQSDĐ.

Xem chi tiết
Trần Hữu Đức

Giao thông - Xây dựng - Tài nguyên - Môi trường

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Đắk Nông đề xuất nhiều dự án xin xây dựng điện mặt trời trên lòng hồ thủy điện nhằm tận dụng tốt nguồn tài nguyên.

Tuy nhiên, hiện nay áp dụng theo Công văn số 4007/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 15/9/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì các diện tích thuộc lòng hồ thủy điện, UBND tỉnh Đắk Nông đã thực hiện việc giao đất cho các chủ đầu tư công trình thủy điện để quản lý và kết hợp sử dụng vào mục đích đất phi nông nghiệp (theo Điều 163 Luật Đất đai năm 2013).

Mặt khác, theo quy định Khoản 39 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 6/1/2017 của Chính phủ quy định bổ sung Điều 57a Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, Cụ thể:

“1. UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện quyết định cho thuê đất có mặt nước là hồ thủy điện, thủy lợi để kết hợp sử dụng với mục đích phi nông nghiệp, nuôi trồng, khai thác thủy sản theo thẩm quyền quy định tại Điều 59 của Luật Đất đai.

2. Việc khai thác, sử dụng đất có mặt nước là hồ thủy điện, thủy lợi vào mục đích phi nông nghiệp, nuôi trồng, khai thác thủy sản phải bảo đảm không ảnh hưởng đến mục đích sử dụng chủ yếu đã được xác định và phải tuân theo quy định của các pháp luật khác có liên quan”.

Xin hỏi áp dụng việc cho thuê đất đối với các trường hợp trên cụ thể như thế nào?

Trường hợp 1: Áp dụng theo Khoản 39 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 6/1/2017: UBND tỉnh quyết định việc thu hồi diện tích đất đã giao đất cho các chủ đầu tư công trình thủy điện để quản lý và kết hợp sử dụng vào mục đích đất phi nông nghiệp (theo Điều 163, Luật Đất đai năm 2013) để cho tổ chức, đơn vị đầu tư xây dựng điện mặt trời trên mặt hồ thủy điện thuê đất có mặt nước là hồ thủy điện, thủy lợi để kết hợp sử dụng với mục đích phi nông nghiệp.

Trường hợp 2: Cơ quan Nhà nước cấp giấy phép và cho thuê dịch vụ thủy lợi theo quy định của Luật Thủy lợi, Nghị định số 67/2018/NĐ-CP và Nghị định số 114/2018/NĐ-CP?
Xem chi tiết
Trần Văn Duy

Giao thông - Xây dựng - Tài nguyên - Môi trường

Hiện nay tôi đang gặp vướng mắc liên quan đến vấn đề hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, rất mong được Quý Bộ giải đáp như sau:

- Gia đình tôi có diện tích ao hương hỏa, sử dụng từ nhiều đời nay. Gia đình tôi chưa thực hiện thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng trong Sổ địa chính năm 1960 và Sổ mục kê năm 1975 đều ghi nhận diện tích đất ao hương hỏa này thuộc quyền sử dụng của gia đình tôi (có ghi tên người sử dụng đất là ông tôi).

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP “Các giấy tờ khác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 100 của Luật Đất đai có tên người sử dụng đất, bao gồm: 1. Sổ mục kê đất, sổ kiến điền lập trước ngày 18 tháng 12 năm 1980”.

Do vậy, tôi xác định Sổ địa chính 1960 và Sổ mục kê năm 1975 có tên người sử dụng đất là gia đình tôi (tên của ông tôi) nên thuộc trường hợp có “Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ” được quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai.

- Trong quá trình sử dụng thửa đất nêu trên, gia đình tôi phát hiện diện tích đất của gia đình tôi đã bị 2 hộ xung quanh lấn chiếm. Sự việc đã được khiếu nại tại UBND xã, UBND huyện nhưng nhiều năm không được giải quyết thỏa đáng. Sau đó, gia đình tôi được biết UBND huyện đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 2 hộ này, bao gồm cả phần đất các hộ này đã lấn chiếm của gia đình tôi nên gia đình tôi đã khiếu nại tới UBND huyện và yêu cầu hủy các Giấy chứng nhận đã cấp cho 2 hộ có lấn chiếm đất của gia đình tôi.

- Vào tháng 12/2018 và tháng 10/2019, trong quá trình giải quyết đơn thư khiếu nại của gia đình tôi, thanh tra UBND quận đã tiến hành xác minh và xác định việc UBND huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 2 hộ trong thời gian đang có tranh chấp đất đai là chưa bảo đảm trình tự thủ tục về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tuy nhiên, UBND huyện căn cứ Khoản 5 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và cho rằng không thể hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho 2 hộ này vì các hộ này sau khi được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện giao dịch chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất và hướng dẫn gia đình tôi khởi kiện tại Tòa án để được giải quyết.

- Khoản 5 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP đã được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 148/2020/NĐ-CP quy định “Nhà nước không thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật trong các trường hợp quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai nếu người được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và đã được giải quyết theo quy định của pháp luật. Việc xử lý thiệt hại do việc cấp Giấy chứng nhận trái pháp luật gây ra thực hiện theo quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân. Người có hành vi vi phạm dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận trái pháp luật bị xử lý theo quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Luật Đất đai”.

- Khoản 6 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định: Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân đã được thi hành.

Tôi xin hỏi:

(1) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp không đúng quy định của pháp luật nhưng thuộc trường hợp Nhà nước không thu hồi Giấy chứng nhận quy định tại Khoản 5 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP thì có được giải quyết theo quy định tại Khoản 6 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP không?

(2) Nếu không thuộc trường hợp được giải quyết theo Khoản 6 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP thì gia đình tôi có thể thực hiện thủ tục gì để bảo đảm quyền lợi của mình?

Xem chi tiết
Nguyễn Thu Hằng

Giao thông - Xây dựng - Tài nguyên - Môi trường

Đơn vị chúng tôi là Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, đang quản lý, vận hành, khai thác các công trình cấp nước nông thôn (bao gồm cả thị trấn) hiện đang hoạt động ổn định và hiệu quả.

Tuy nhiên, thực hiện theo Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-BXD, ngày 27/4/2020 của Bộ xây dựng theo Điều 29 ghi: "Đối với địa bàn đã có tổ chức, cá nhân đang thực hiện dịch vụ cấp nước thì tổ chức, cá nhân đó được tiếp tục thực hiện dịch vụ cấp nước trên địa bàn". Đây cũng là nội dung theo Điểm 5 Khoản 3 Điều 1 Nghị định số 98/2019/NĐ-CP ngày 27/12/2019 của Chỉnh phủ.

Vậy cho tôi hỏi, đơn vị chúng tôi là Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có được xem là "tổ chức" theo 2 văn bản hướng dẫn nêu trên hay không?

Xem chi tiết
Vũ Thành Trung

Giao thông - Xây dựng - Tài nguyên - Môi trường

Bên mời thầu thông báo mời thầu thi công xây dựng công trình A (công trình A bao gồm các hạng mục xây lắp và thi công hệ thống phòng cháy chữa cháy). Tuy nhiên hồ sơ mời thầu yêu cầu nhà thầu tham gia phải có chứng chỉ năng lực thi công xây dựng và thi công phòng cháy chữa cháy, như vậy có đúng quy định không ? Nếu trường hợp nhà thầu tham gia là liên danh công ty B có chứng chỉ năng lực xây dựng và công ty C có chứng năng lực thi công phòng cháy chữa cháy thì đạt không?

Trường trong hồ sơ mời thầu yêu cầu từng thành viên liên danh phải có chứng chỉ năng lực thi công xây dựng và chứng chỉ năng lực thi công phòng cháy chữa cháy vậy đúng luật không?
Xem chi tiết
Cao Văn Quý

Giao thông - Xây dựng - Tài nguyên - Môi trường

Dự án làm đường giao thông nông thôn có tổng mức 5 tỷ đồng, gói thầu xây lắp được tổ chức đấu thầu rộng rãi trong nước với giá gói thầu 4,5 tỷ đồng. Đã hoàn thành việc lựa chọn nhà thầu và ký hợp đồng với nhà thầu trúng thầu vào tháng 10/2020.

Tuy nhiên, công tác giải phóng mặt bằng của dự án chưa được triển khai xong do thiết kế tuyến đường chia cắt ruộng hoa màu của dân dẫn đến nhân dân không đồng ý.

Để hạn chế tối đa công tác giải phóng mặt bằng, giảm tối đa diện tích đất ruộng phải thu hồi nhằm tiết kiệm kinh phí đầu tư, giảm chi phí xây dựng công trình, mang lại hiệu quả tài chính, kinh tế - xã hội (Điểm b Khoản 1 Điều 61 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014), chủ đầu tư đã xin ý kiến người có thẩm quyền cho phép điều chỉnh hướng tuyến dịch sang so với thiết kế cũ 20m (vị trí, quy mô tuyến đường không thay đổi) nhằm không làm chia cắt các thửa ruộng, thuận lợi cho nhân dân canh tác hoa màu, đồng thời phù hợp với kế hoạch sử dụng đất của địa phương.

Xin hỏi, nội dung vướng mắc của dự án có thuộc các trường hợp được điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn Nhà nước theo quy định tại Điều 61 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 không? Nếu không thuộc thì phải áp dụng quy định nào để điều chỉnh dự án?

Dự án có phải điều chỉnh kế hoạch lựa chọn nhà thầu và đấu thầu lại để chọn nhà thầu mới hay tiến hành thương thảo với nhà thầu đã trúng thầu để tiếp tục thực hiện (nhà thầu đã trúng thầu có công văn đồng ý thực hiện hợp đồng theo kết quả lựa chọn nhà thầu trước đó)?
Xem chi tiết
Lương Hải Kiên

Giao thông - Xây dựng - Tài nguyên - Môi trường

Cơ quan tôi có kế hoạch thực hiện gói thầu thuê đơn vị bên ngoài thực hiện các xét nghiệm theo yêu cầu. Thanh toán theo số lượng thực tế phát sinh (giá 1 xét nghiệm là cố định). Theo quy định tại Điều 62 Luật Đấu thầu, đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn đơn giản; gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô nhỏ phải áp dụng hợp đồng trọn gói. Tuy nhiên, tại thời điểm ký kết hợp đồng, không thể xác định được khối lượng cụ thể.

Vậy, khi kết thúc hợp đồng, khối lượng thực tế phát sinh khác với giá trị hợp đồng, tôi cần phải xử lý như thế nào?

Xem chi tiết
Vũ Đức Toàn