Trần Thị Dừ -
08:02 02/11/2026
Tôi là vợ liệt sĩ, ông Trần Văn Dũng là con liệt sĩ. Đề nghị cơ quan chức năng hướng dẫn, giải đáp vướng mắc về chính sách đất đai đối với trường hợp của gia đình chính sách như sau: - Về nguồn gốc thửa đất gốc ban đầu: Thửa đất số 13 có nguồn gốc địa giới cũ thuộc xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, do cha ông để lại, hộ gia đình sử dụng ổn định liên tục từ xưa và có xây dựng nhà ở từ năm 1974 ở cho đến nay (trước ngày 18/12/1980). Ngày 21/4/2000, thửa đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ gia đình ông Trần Văn Dũng, diện tích ban đầu 1.039 m², mục đích sử dụng ghi chung là: “Làm nhà ở + Vườn”. - Về biến động đính chính diện tích và tách thửa năm 2019: Ngày 11/9/2019, cơ quan quản lý đất đai thực hiện ghi dòng đính chính trên sổ gốc: “Đính chính đúng mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất: Mục đích sử dụng: Đất ở 300.0 m², đất vườn 739.0 m²; thời hạn sử dụng: Đất ở lâu dài, đất vườn sử dụng đến ngày 21/04/2050; theo hồ sơ số 000129.SN.001”. Sau đó, diện tích thực tế thửa đất được đo đạc kỹ thuật địa chính xác định lại là 1.017,6 m² (gồm 300 m² đất ở và 717,6 m² đất vườn dôi dư) theo hồ sơ số 000129.TD.002. Ngày 29/10/2019, do nhu cầu phân chia tài sản nội bộ gia đình, thửa đất gốc số 13 được đo đạc tách thành 3 thửa đất riêng biệt cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới cho các thành viên cùng chung hộ khẩu: Thửa số 13 (1) diện tích 200 m², mục đích: Đất vườn, đứng tên tôi - vợ liệt sĩ. Thửa số 13 (2) diện tích 300 m², mục đích: Đất ở, đứng tên ông Trần Ngọc Vương. Thửa số 13 (3) diện tích 517,6 m², mục đích: Đất vườn, đứng tên ông Trần Văn Dũng - con liệt sĩ. Mặc dù đã tách thành các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất độc lập cho từng cá nhân để thuận tiện quản lý, nguồn gốc lịch sử của toàn bộ diện tích 1.017,6 m² này là hoàn toàn thống nhất, liên tục và hình thành từ thửa gốc số 13 có nhà ở ổn định từ trước năm 1980. - Về quá trình thực hiện nghĩa vụ tài chính và vướng mắc phát sinh: Năm 2025, gia đình tôi thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn sang đất ở cho 2 thửa đất vườn, thửa 13 (1) của tôi và thửa 13 (3) của ông Dũng. Đến tháng 4/2026, dù hoàn cảnh kinh tế của gia đình thân nhân liệt sĩ còn nhiều khó khăn, gia đình đã rất cố gắng vay mượn hoàn thành nghĩa vụ thuế để nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa 200 m² và đã nộp một phần nghĩa vụ tài chính cho thửa 517,6 m². Tháng 5/2026, gia đình đối chiếu quy định mới của Luật Đất đai 2024 và Quyết định số 61/2024/QĐ-UBND của UBND TP. Hà Nội, nhận thấy thửa đất gốc số 13 có đủ điều kiện để được xác định lại diện tích đất ở theo hạn mức công nhận mới đối với đất sử dụng trước năm 1980 (giúp giảm diện tích vượt hạn mức và giảm nghĩa vụ tài chính khi chuyển mục đích phần còn lại). Tuy nhiên, qua trao đổi, cán bộ địa chính xã giải thích, thửa đất gốc đã có dòng đính chính rõ diện tích đất ở (300 m²) và đất vườn (739 m²) vào năm 2019 trên sổ gốc nên nay không đủ điều kiện để thực hiện thủ tục xác định lại diện tích đất ở nữa. Năm 2019, khi lập Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung, gia đình đã chủ động dồn toàn bộ 300 m² đất ở sang cho thửa của ông Trần Ngọc Vương, nên hai thửa còn lại của tôi và ông Trần Văn Dũng về mặt hiện trạng pháp lý chỉ còn là đất nông nghiệp (đất vườn), không có cơ sở để xác định lại diện tích đất ở. Việc xác định lại diện tích đất ở chỉ áp dụng đối với thửa đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở thực tế, trong khi hai thửa của tôi và ông Dũng sau khi tách ra là đất vườn nông nghiệp thuần túy, không có nhà ở. Xin hỏi, với các điều kiện nêu trên, gia đình tôi có đủ căn cứ để thực hiện xác định lại diện tích đất ở theo quy định hiện hành không? Ý kiến từ chối của cán bộ xã với lý do thửa đất gốc đã có dòng đính chính diện tích đất ở năm 2019 có đúng với tinh thần quy định chuyển tiếp tại khoản 2 Điều 20 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP và Luật Đất đai 2024 hay không? Khi thực hiện thủ tục đăng ký biến động/chuyển mục đích sử dụng đất đối với hai thửa vườn nêu trên, cơ quan quản lý đất đai địa phương có trách nhiệm thực hiện xác định lại diện tích đất ở dôi dư trong hạn mức (tối đa 900 m²) theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 20 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP và điểm c khoản 3 Điều 14 Quyết định số 61/2024/QĐ-UBND hay không?
Xem chi tiết