Bảo Yến -
07:01 22/05/2026
Bảng giá đất lần đầu áp dụng từ ngày 01/01/2026 đã được HĐND tỉnh tôi thông qua. Căn cứ để xây dựng bảng giá đất lần đầu được thực hiện quy định của Luật Đất đai năm 2024, Nghị định số 71/2024/NĐ-CP ngày 27/6/2024 của Chính phủ quy định về giá đất và được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15/8/2025 của Chính phủ; trong đó giá đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở được quy định trong bảng giá đất của tỉnh bằng 20% giá đất ở cùng vị trí. Việc quy định bằng 20% giá đất ở cùng vị trí là phù hợp, phản ánh đúng thực tế đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có nhà ở có giá trị cao hơn nhiều do có các yếu tố thuận lợi hơn ảnh hưởng đến giá đất, trong đó có yếu tố chuyển mục đích sang đất ở; bảo đảm quyền lợi của người bị thu hồi đất và thuận lợi trong công tác giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất. Theo quy định của pháp luật đất đai năm 2024, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở chỉ được xác định khi nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất đã sử dụng ổn định (công nhận quyền sử dụng đất thửa đất ở có vườn, ao) của hộ gia đình, cá nhân. Pháp luật đất đai 2024 không cho phép hợp thửa đất nông nghiệp khác (liền kề) vào thửa đất ở đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, theo khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội có hiệu lực từ ngày 01/01/2026: "… Việc hợp các thửa đất không bắt buộc cùng mục đích sử dụng đất, cùng hình thức trả tiền thuê đất, cùng thời hạn sử dụng đất". Với quy định này thì hộ gia đình, cá nhân được phép hợp thửa các thửa đất nông nghiệp khác vào thửa đất ở và được cấp Giấy chứng nhận, trở thành đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở và được áp dụng (hưởng) chính sách đối với đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở theo quy định của tỉnh (giá đất bằng 20% giá đất ở cùng vị trí) và theo quy định của Trung ương (chuyển mục đích sang đất ở trong hạn mức bằng 30%, vượt 1 lần hạn mức bằng 50%), trong khi nếu thửa đất nông nghiệp không được hợp thửa vào thửa đất ở thì chỉ được áp dụng theo bảng giá đất nông nghiệp và khi chuyển mục đích sang đất ở phải nộp 100% tiền sử dụng đất. Ví dụ: Giá đất trồng cây hằng năm theo bảng giá đất là 80.000 đồng/m2; giá đất ở cùng vị trí theo bảng giá đất là: 20.000.000 đồng/m2. Khi hợp thửa đất nông nghiệp vào thửa đất ở trở thành đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở thì có giá đất nông nghiệp bằng 20% giá đất ở là 4.000.000 đồng/m2 (= 20% x 20.000.000 đồng/m2). Điều này sẽ dẫn đến những bất cập khi thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất và bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất, nhưng tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 không giao Chính phủ quy định nội dung này. Vì vậy, nội dung này cần được xử lý ngay để địa phương có cơ sở thực hiện bảo đảm tính pháp lý. Trong quá trình áp dụng hạn mức theo khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 đã được hướng dẫn tại Điều 6 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP chỉ hướng dẫn đến điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15; trong khi theo khoản 5 Điều 116 Luật Đất đai (quy định về căn cứ để cho phép chuyển mục đích sử dụng đất) cũng thuộc điểm b khoản 1 Điều 121 Luật đất đai. Tôi xin hỏi, vậy đối với đất nông nghiệp tại khoản 5 Điều 116 có được áp dụng như Điều 6 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP hay không? Đối với đất nông nghiệp độc lập thuộc khoản 5 Điều 116 có được áp dụng theo điểm c khoản 2 điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 hay không?
Xem chi tiết