Tìm kiếm

Tài chính - Ngân hàng - Đầu tư - Công Thương

Tôi công tác tại đơn vị sự nghiệp thực hiện theo Thông tư 145/2017/TT-BTC, thuộc đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên. Năm 2018, đơn vị tham gia gói thầu dịch vụ thực hiện trong 4 năm. Nguồn thu dịch vụ này chỉ phục vụ cho công tác hoàn thành gói thầu, không sử dụng chi cho công việc tại đơn vị. Do nhu cầu cần thiết, đơn vị tự vay vốn để mua sắm xe ô tô về phục vụ cho công tác gói thầu. Xin hỏi, nếu sử dụng nguồn tự vay vốn để mua sắm thì có phải thực hiện theo quy trình đấu thầu hay không? Xem chi tiết
Nguyễn Thị Lan Anh

Tài chính - Ngân hàng - Đầu tư - Công Thương

Công ty của tôi chi hộ cho 1 Công ty khách hàng ở Nhật Bản phí in phong bì (in tại 1 Công ty in ở Việt Nam). Sau khi in xong và bàn giao tài liệu in, Công ty in đã xuất hóa đơn GTGT trực tiếp cho Công ty tôi với thuế suất GTGT là 10%. Công ty tôi đã chuyển khoản thanh toán cho Công ty in thay Công ty khách hàng. Sau đó, Công ty khách hàng thuê một công ty vận chuyển ở Việt Nam để chuyển toàn bộ số phong bì đã in ở trên về Nhật Bản và Công ty tôi cũng đã thực hiện chuyển khoản thanh toán thay cho Công ty khách hàng khoản tiền vận chuyển này. Công ty vận chuyển cũng đã xuất hóa đơn GTGT trực tiếp cho Công ty tôi với thuế suất 10%. Công ty khách hàng tại Nhật Bản đã thanh toán tiền in phong bì và tiền vận chuyển phong bì sang Nhật Bản cho Công ty tôi cũng qua phương thức chuyển khoản, đồng thời Công ty tôi cũng đã xuất hóa đơn GTGT với thuế suất 10% lại cho Công ty khách hàng tại Nhật Bản (Công ty tôi chưa đăng ký hoạt động với lĩnh vực in ấn cũng như vận chuyển hàng hóa, ngành nghề sản xuất kinh doanh của Công ty là sản xuất phần mềm). Công ty tôi hiểu rằng Công ty sẽ phải kê khai thuế GTGT hóa đơn đầu vào và đầu ra liên quan tới khoản chi hộ này. Đồng thời, Công ty được khấu trừ thuế GTGT đầu vào của hóa đơn chi hộ này và phải nộp thuế đầu ra đối với phần thuế GTGT của hóa đơn đầu ra xuất lại cho công ty khách hàng Nhật Bản. Xin hỏi, Công ty tôi hiểu thế là đúng hay sai? Nếu sai thì phải hiểu thế nào cho đúng?
Xem chi tiết
Vũ Thị Thủy

Tài chính - Ngân hàng - Đầu tư - Công Thương

Tôi công tác tại trường cao đẳng công lập, đơn vị tự chủ một phần chi thường xuyên theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP. Xin hỏi, các khoản chi có tính chất phúc lợi cho người lao động có được tính vào chi phí hợp lý trong hoạt động sản xuất dịch vụ không hay phải chi từ quỹ phúc lợi?
Xem chi tiết
Nguyễn Thanh Diệu

Tài chính - Ngân hàng - Đầu tư - Công Thương

Tôi vừa nhận chuyển nhượng 1 thửa đất tại xã Điền Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế với diện tích 246m2, trong đó gồm 200m2 đất ở và 46m2 đất trồng cây lâu năm. Qua nghiên cứu Nghị định số 140/2016/NĐ-CP quy định về lệ phí trước bạ, tôi thấy tại khoản 26 và khoản 4, Điều 9 Nghị định này có quy định về các trường hợp được miễn lệ phí trước bạ sau:“4. Đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc công nhận sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làm muối”.“26. Nhà ở, đất ở của hộ nghèo; nhà ở, đất ở của đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã, phường, thị trấn thuộc vùng khó khăn, Tây Nguyên; nhà ở, đất ở của hộ gia đình, cá nhân ở các xã thuộc Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa”. Tại Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/1/2017 của Thủ tướng Chính phủ thì xã Điền Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế là một trong các xã thuộc danh sách các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển, hải đảo. Xin hỏi, nếu tôi làm thủ tục đăng ký để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất này thì tôi có được miễn lệ phí trước bạ đối với đất ở (tại xã đặc biệt khó khăn) và đất nông nghiệp (nguồn gốc đất được công nhận vào mục đích đất trồng cây lâu năm) hay không?
Xem chi tiết
Nguyễn Hữu Thanh

Tài chính - Ngân hàng - Đầu tư - Công Thương

Căn cứ Công văn 3200/TCT-KK ngày 12/8/2019 về việc quản lý thuế đối với địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp khác tỉnh với đơn vị chủ quản thì: “2. Về đăng ký thuế: Cơ quan thuế được giao nhiệm vụ quản lý thuế đối với địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp căn cứ thông tin tại Danh sách địa điểm kinh doanh đã được Cục Thuế phân công quản lý thuế trên địa bàn, thực hiện đăng ký thuế để cấp mã số thuế 13 số cho địa điểm kinh doanh, gửi thông báo mã số thuế (mẫu số 11-MST) cho đơn vị chủ quản của địa điểm kinh doanh và địa điểm kinh doanh biết để kê khai, nộp thuế cho địa điểm kinh doanh. Mã số thuế 13 số của địa điểm kinh doanh không thực hiện liên thông với cơ quan đăng ký kinh doanh". Công ty của tôi hoạt động tại rất nhiều tỉnh, thành trong cả nước, khi áp dụng Công văn trên đã xảy ra tình trạng nhiều cơ quan thuế tại các tỉnh tự cấp mã số thuế (MST) mà không thông báo cho DN, hoặc có tỉnh phải tự chủ động xin cấp MST. Khi cấp MST có tỉnh cấp giấy chứng nhận đăng ký cấp MST, có tỉnh không có thông báo, DN phải tự tra thông tin trên trang Tổng cục Thuế gây rất nhiều khó khăn cho DN trong quá trình giao dịch. Ngoài ra, theo quy định thì MST 13 số này sẽ do cơ quan thuế quản lý, không liên thông với cơ quan đăng ký kinh doanh. Điều này dẫn đến việc cơ quan đăng ký kinh doanh không nắm được thông tin, MST không được ghi nhận trên Địa điểm kinh doanh. Địa điểm kinh doanh không có tư cách pháp nhân, không có con dấu riêng, không có chức năng đại diện theo ủy quyền. Vì vây, địa điểm kinh doanh không thể đại diện cho pháp nhân ký hợp đồng, dẫn đến việc khi ký kết hợp đồng, buộc phải ký hợp đồng bằng pháp nhân, hóa đơn sẽ được xuất về cho pháp nhân chứ không xuất về cho địa điểm kinh doanh. Rất nhiều DN từ chối xuất hóa đơn về địa điểm kinh doanh, dẫn đến việc không ghi nhận được chi phí đầu vào của địa điểm kinh doanh trong khi hình thức hạch toán của địa điểm kinh doanh là hình thức khấu trừ. Việc quy định DN có thể lập địa điểm kinh doanh tại các tỉnh khác trụ sở chính mà không phải thông qua chi nhánh là điểm mới, tạo thuận lợi cho DN trong quá trình hoạt động, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Tuy nhiên, việc yêu cầu địa điểm kinh doanh buộc phải cấp MST gây rất nhiều khó khăn cho DN trong quá trình giao dịch. Đề nghị cơ quan chức năng có hướng dẫn cụ thể về vấn đề hạch toán thuế, xuất hóa đơn cho địa điểm kinh doanh, thống nhất hình thức quản lý địa điểm kinh doanh giữa cơ quan thuế và cơ quan đăng ký kinh doanh.
Xem chi tiết
Nguyễn Ngọc Hải

Tài chính - Ngân hàng - Đầu tư - Công Thương

Địa phương tôi căn cứ theo Thông tư số 20/2019/TT-BTC cho rằng Nhà kho hiện không còn thuộc trường hợp được miễn lệ phí trước bạ do Thông tư này đã bãi bỏ nội dung quy định về miễn lệ phí trước bạ cho Nhà kho được quy định tại Thông tư số 301/2016/TT-BTC. Tuy nhiên, khi xem xét lại 4 văn bản là Nghị định 140/2016/NĐ-CP; Nghị định 20/2019/NĐ-CP; Thông tư 301/2016/TT-BTC và Thông tư 20/2019/TT-BTC, thì tôi cho rằng Nhà kho vẫn thuộc trường hợp được miễn lệ phí trước bạ, cụ thể: Nghị định 140/2016/NĐ-CP quy định: Nhà xưởng của cơ sở sản xuất; nhà kho, nhà ăn, nhà để xe của cơ sở sản xuất, kinh doanh; Thông tư 301/2016/TT-BTC quy định chi tiết Nghị định 140/2016/NĐ-CP: Nhà xưởng của cơ sở sản xuất, bao gồm cả nhà bảo vệ, nhà điều hành, nhà để máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh; nhà kho, nhà ăn, nhà để xe của cơ sở sản xuất, kinh doanh. 2 nội dung này khác nhau ở chỗ "bao gồm cả nhà bảo vệ, nhà điều hành, nhà để máy móc thiết bị..."; Nghị định 20/2019/NĐ-CP quy định: Nhà xưởng của cơ sở sản xuất; nhà kho, nhà ăn, nhà để xe của cơ sở sản xuất, kinh doanh. Nhà xưởng theo quy định tại khoản này được xác định theo pháp luật về phân cấp công trình xây dựng; Thông tư 20/2019/TT-BTC quy định bãi bỏ Khoản 25 Thông tư 301/2016/TT-BTC; Thông tư 20/2019/TT-BTC bãi bỏ: nhà điều hành, nhà để máy móc thiết bị và áp dụng nhà kho, nhà ăn, nhà để xe theo Nghị định 20/2019/NĐ-CP. Do đó, nhà kho vẫn thuộc trường hợp được miễn lệ phí trước bạ. Kính mong cơ quan có thẩm quyền xem xét và cho ý kiến để tôi có cơ sở giải trình với cơ quan thuế địa phương, nhằm đảm bảo việc thu nộp lệ phí trước bạ cho nhà kho được thực hiện đúng theo quy định pháp luật

Xem chi tiết
Trương Thanh Viên

Tài chính - Ngân hàng - Đầu tư - Công Thương

Đơn vị của tôi được 1 doanh nghiệp thuê tư vấn về phân tích mẫu và giám sát môi trường. Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp này bị thua lỗ, đã có quyết định của tòa về phá sản nhưng còn nợ tiền của đơn vị tôi 400 triệu đồng. Đơn vị tôi đã xuất hóa đơn và khai thuế. Xin hỏi, số tiền doanh nghiệp nợ đơn vị tôi có được đưa vào chi phí để quyết toán năm không?
Xem chi tiết
Nguyễn Văn Tùng

Tài chính - Ngân hàng - Đầu tư - Công Thương

Tôi vay 30 triệu đồng của Ngân hàng VPbank thông qua liên kết với mạng Mobifone. Khi trả lãi và gốc, tôi trả 1.744.000đ/tháng, lãi suất 58%/năm (vay 2 năm). Ngân hàng tính lãi cho tôi trên số tiền gốc 30 triệu đồng, không phải theo dư nợ giảm dần. Mấy tháng vừa rồi tôi không trả nợ, phía ngân hàng đã gửi mail và gọi điện cho biết đã đưa đơn đến Viện Kiểm sát nhân dân để kiện tôi và bán nợ cho Công ty đòi nợ. Đề nghị Ngân hàng Nhà nước xem xét, hướng dẫn về trường hợp của tôi.
Xem chi tiết
Nguyễn Hải Thạch

Tài chính - Ngân hàng - Đầu tư - Công Thương

Khoản 3, Điều 4 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính quy định, “Tưới, tiêu nước; cày, bừa; nạo vét kênh, mương nội đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp; dịch vụ thu hoạt sản phẩm nông nghiệp” thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Tại Khoản 4, Điều 10 Thông tư số 219/2013/TT-BTC: “Dịch vụ đào đắp, nạo vét kênh, mương, ao hồ phục vụ sản xuất nông nghiệp; nuôi trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng; sơ chế, bảo quản sản phẩm nông nghiệp (trừ nạo, vét kênh mương nội đồng được quy định tại khoản 3 Điều 4 Thông tư này)” thì áp dụng thuế suất thuế GTGT là 5%. Tại Điều 11 Thông tư số 219/2013/TT-BTC: “Thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ không được quy định tại Điều 4, Điều 9 và Điều 10 Thông tư này.” Tuy nhiên, trong Thông tư số 219/2013/TT-BTC lại không nêu định nghĩa nạo vét kênh, mương nội đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp và nạo vét kênh, mương, ao hồ phục vụ sản xuất nông nghiệp là như thế nào. Xin được hướng dẫn để thống nhất cách hiểu về vấn đề trên nhằm xác định chính xác thuế suất thuế GTGT của hoạt động nạo vét kênh.
Xem chi tiết
Nguyễn Hữu Nghĩa

Tài chính - Ngân hàng - Đầu tư - Công Thương

Xin đề nghị giải đáp trường hợp sau: Thỏa thuận liên danh được ký kết ngày 27/9/2019 giữa công ty A liên danh với công ty B là liên danh công ty A + B (công ty A là thành viên đứng đầu liên danh, và công ty A sẽ thực hiện bảo lãnh cho cả liên danh). Bảo lãnh dự thầu chỉ bảo lãnh/thực hiện riêng lẻ cho công ty A nhưng giá trị bảo lãnh bằng với yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Thông báo bảo lãnh dự thầu được phát hành ngày 25/9/2019 của Ngân hàng (thời gian thực hiện bảo lãnh trước thời điểm 2 bên ký kết liên danh). Xin hỏi, bảo lãnh dự thầu này có hợp lệ không? Bảo lãnh dự thầu cho liên danh thực hiện trước khi thỏa thuận liên danh có hợp lệ không?
Xem chi tiết
Huỳnh Bửu Thăng