Gửi câu hỏi

Danh sách câu hỏi thuộc lĩnh vực:

Tài chính – Ngân hàng – Công Thương

Tài chính – Ngân hàng – Công Thương

Đồng Thị Luân
Đồng Thị Luân - 14:08 03/11/2026

Xác định đối tượng nộp tiền sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận

Gia đình tôi nhận chuyển nhượng nhà đất từ người khác vào năm 2000. Văn bản chuyển nhượng có xác nhận của chính quyền địa phương. Thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận cho chủ cũ từ năm 1990. Do hoàn cảnh khó khăn, từ thời điểm nhận chuyển nhượng đến nay, gia đình tôi chưa làm thủ tục đăng ký đất đai để xin cấp Giấy chứng nhận. Vừa qua, theo tuyên truyền và phổ biến pháp luật của chính quyền địa phương, gia đình tôi được biết bản thân đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận lần đầu. Tuy nhiên, gia đình rất lo lắng về khả năng tài chính để nộp tiền sử dụng đất. Qua tìm hiểu, căn cứ theo khoản 1 và khoản 5 Điều 137 Luật Đất đai năm 2024, gia đình tôi thuộc diện sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất lập trước ngày 1/3/1993 nhưng giấy tờ đó đứng tên người khác, kèm theo giấy tờ chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên. Tôi xin hỏi, với trường hợp nêu trên, khi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận lần đầu, gia đình tôi có phải nộp tiền sử dụng đất hay không?
Xem chi tiết

Tài chính – Ngân hàng – Công Thương

Nguyễn Long
Nguyễn Long - 13:07 03/11/2026

Dự án đã ứng tiền giải phóng mặt bằng có phải ký quỹ tiếp?

Công ty tôi đang triển khai dự án đầu tư được cấp Giấy chứng nhận đầu tư lần đầu năm 2014, điều chỉnh lần thứ 26 vào năm 2024; đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyết định giao toàn bộ diện tích đất thuê từ năm 2016. Tình hình thực hiện dự án cụ thể như sau: Về bồi thường, giải phóng mặt bằng, doanh nghiệp đã ứng trước toàn bộ chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng cho toàn bộ diện tích đất thuê (với tổng số tiền ứng trước lớn gần gấp 2 lần giá trị tiền thuê đất). Sau khi khấu trừ hoàn toàn vào tiền thuê đất phải nộp cho cả thời gian thuê, số tiền ứng trước giải phóng mặt bằng còn lại đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền tính vào vốn đầu tư thực hiện dự án. Dự án được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 (từ năm 2014) đã đi vào hoạt động sản xuất từ năm 2016, hoàn thành đầu tư trên khoảng 60% diện tích đất và 60% tổng mức đầu tư dự án. Giai đoạn 2, theo Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư điều chỉnh năm 2024, dự kiến triển khai từ Quý II. Căn cứ Điều 25 Luật Đầu tư năm 2020 và Điều 26 Nghị định số 31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư (quy định về các trường hợp không phải ký quỹ hoặc ký quỹ bảo đảm thực hiện dự án đầu tư); tôi xin hỏi, trường hợp nhà đầu tư đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ năm 2016 và đã hoàn thành ứng tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng cho toàn bộ diện tích đất của dự án thì có thuộc đối tượng không phải nộp tiền ký quỹ hoặc bảo lãnh ký quỹ bảo đảm thực hiện dự án đầu tư đối với phần diện tích/giai đoạn 2 sắp triển khai hay không? Trường hợp vẫn phải thực hiện nghĩa vụ bảo đảm thực hiện dự án cho giai đoạn 2, số tiền bồi thường giải phóng mặt bằng còn thừa đã được tính vào vốn đầu tư của dự án có được xem xét để giảm trừ hoặc thay thế cho nghĩa vụ ký quỹ/bảo lãnh ký quỹ theo quy định pháp luật hiện hành hay không?
Xem chi tiết

Tài chính – Ngân hàng – Công Thương

Trương Văn Hùng
Trương Văn Hùng - 15:09 02/11/2026

Điều kiện áp dụng chính sách giảm tiền sử dụng đất theo Nghị quyết 254

Gia đình tôi có 700 m² đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng từ năm 1997, là đất vườn. Năm 2011, bố mẹ tôi chuyển 200 m² đất vườn thành đất ở. Sau đó, bố mẹ tặng cho anh trai tôi 500 m² (200 m² đất ở và 300 m² đất vườn). Thửa đất còn lại của gia đình là 200 m² đất vườn. Năm 2025, tôi tiếp tục làm thủ tục xin chuyển đổi nốt 200 m² đất vườn thành đất ở. Xin hỏi, 200 m² đất vườn mà tôi thực hiện chuyển đổi vào năm 2025 có được xem là đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền với đất ở đã được tách ra hay không? Trường hợp của tôi có thuộc đối tượng được áp dụng chính sách tính tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội hay không?
Xem chi tiết

Tài chính – Ngân hàng – Công Thương

Đỗ Hà Chi
Đỗ Hà Chi - 13:07 02/11/2026

Người đại diện theo pháp luật có phải huấn luyện an toàn hóa chất?

Tôi đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét đưa người đại diện pháp luật của tổ chức ra khỏi các đối tượng tham gia huấn luyện an toàn chuyên ngành hóa chất nhóm 1 quy định tại Nghị định số 25/2026/NĐ-CP. Theo ý kiến của tôi, khoản 1 Điều 36 Luật Hóa chất 2025 quy định, đối tượng phải huấn luyện là “người lao động”. Thực tế người đại diện theo pháp luật có thể là người quản lý doanh nghiệp (Chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc...), người đại diện theo pháp luật có thể không phải là người lao động, nếu bắt buộc huấn luyện sẽ vượt quá phạm vi quy định của Luật. Người đại diện theo pháp luật có thể không liên quan đến hoạt động hóa chất, bởi theo Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020, chức danh này thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch, giải quyết việc dân sự, không trực tiếp quản lý hay thực hiện hoạt động hóa chất. Đồng thời, người đại diện theo pháp luật đã nắm được thông tin cần thiết: các nội dung huấn luyện Nhóm 1 đều thể hiện trong Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất do người đại diện theo pháp luật ký duyệt và tổ chức thực hiện.
Xem chi tiết

Tài chính – Ngân hàng – Công Thương

Hà Thành Công
Hà Thành Công - 09:03 02/11/2026

Thẩm quyền tăng vốn điều lệ tại doanh nghiệp nhà nước

Theo Điều 10 Nghị định số 366/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, thẩm quyền đầu tư vốn nhà nước để bổ sung vốn điều lệ cho doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ như sau: Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư vốn hoặc quyết định chủ trương đầu tư trong các trường hợp theo thẩm quyền. Cơ quan đại diện chủ sở hữu đầu tư bổ sung vốn điều lệ cho doanh nghiệp từ nguồn ngân sách nhà nước, ngân sách địa phương hoặc các trường hợp đầu tư bổ sung vốn khác theo quy định. Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty quyết định đầu tư bổ sung vốn điều lệ cho doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc các trường hợp cụ thể, bao gồm việc bổ sung vốn điều lệ từ nguồn tài sản công là kết quả của quá trình thực hiện dự án sử dụng vốn nhà nước đã xác định đối tượng thụ hưởng và được tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công. Công ty tôi được cơ quan đại diện chủ sở hữu ra quyết định giao tài sản kết cấu hạ tầng hàng hải là kết quả của quá trình thực hiện dự án sử dụng vốn nhà nước và được xác định tính vào thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định số 186/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công; Nghị định số 178/2026/NĐ-CP quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng nhà nước đầu tư, quản lý. Tôi xin hỏi, sau khi được giao tài sản và giá trị tài sản được tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, thẩm quyền tăng vốn điều lệ tại doanh nghiệp thuộc về cơ quan đại diện chủ sở hữu hay Hội đồng thành viên Tổng công ty?
Xem chi tiết

Tài chính – Ngân hàng – Công Thương

Nguyễn Anh Trường
Nguyễn Anh Trường - 09:02 01/11/2026

Điều kiện cư trú tại Việt Nam của người đại diện theo pháp luật

Căn cứ khoản 3 Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam. Trong khi đó, khoản 2 Điều 2 Luật Thuế TNCN 2025 quy định cá nhân cư trú là người có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong một năm dương lịch (hoặc 12 tháng liên tục) hoặc có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam. Tôi xin hỏi, khái niệm "cư trú tại Việt Nam" áp dụng cho người đại diện theo pháp luật trong Luật Doanh nghiệp 2020 có được hiểu đồng nhất với khái niệm "cá nhân cư trú" theo Luật Thuế TNCN 2025 hay không? Trường hợp người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là người nước ngoài thì có bắt buộc phải đáp ứng điều kiện có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong một năm dương lịch (hoặc 12 tháng liên tục) để thỏa mãn điều kiện "cư trú tại Việt Nam" theo Luật Doanh nghiệp 2020 hay không?
Xem chi tiết

Tài chính – Ngân hàng – Công Thương

Đặng Trí
Đặng Trí - 11:04 31/10/2026

Kinh phí trả lương dạy thêm giờ được bố trí từ đâu?

Năm học 2024-2025, trường THCS nơi tôi công tác có 11 lớp, được UBND huyện (sau 1/7/2025 là xã) giao 24 biên chế, trong đó 2 cán bộ quản lý, 18 giáo viên, 1 giáo viên tổng phụ trách, 3 nhân viên. Tỷ lệ giáo viên trên lớp chỉ đạt 1,64, thấp hơn định mức Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định (tối đa 1,9); nhân viên cũng thiếu 2 nên nhà trường phải thực hiện phân công giáo viên dạy tăng giờ và làm kiêm nhiệm. Tổng số tiết dạy thêm giờ trong 1 năm học là 2.211 tiết. Ngân sách của trường trong năm được cấp có thẩm quyền giao dựa trên số biên chế được cấp là 24 người, vì thế chỉ đủ chi trả tiền lương và nguồn kinh phí hoạt động chỉ đủ chi các hoạt động trong năm của nhà trường. Cuối năm học nhà trường không đủ kinh phí để chi trả chế độ thêm giờ cho giáo viên. Tôi xin hỏi, nhà trường phải làm gì để có kinh phí chi trả cho giáo viên dạy thừa giờ (đến nay đã là năm học 2026-2027). Nhà trường có sử dụng kinh phí từ nguồn cấp bù học phí của trường để chi trả được không?
Xem chi tiết

Tài chính – Ngân hàng – Công Thương

Nguyễn Xuân Ngọ
Nguyễn Xuân Ngọ - 10:03 31/10/2026

Thủ tục xử lý thuế nộp thừa khi cho thuê nhà

Tôi là cá nhân trực tiếp khai thuế đối với hoạt động cho thuê nhà. Tổng doanh thu cho thuê nhà theo hợp đồng trong năm 2026 là 960 triệu đồng và không có hoạt động cho thuê nào khác. Ngày 1/2/2026, tôi đã nộp tờ khai mẫu số 01/TTS cho kỳ thanh toán từ ngày 1/1/2026 đến ngày 30/6/2026 với doanh thu 480 triệu đồng, đồng thời nộp đủ số tiền thuế 35,5 triệu đồng (gồm 24 triệu đồng thuế GTGT và 11,5 triệu đồng thuế TNCN). Ngày 29/4/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 141/2026/NĐ-CP nâng mức doanh thu không phải nộp thuế GTGT và thuế TNCN lên 1 tỷ đồng/năm, áp dụng từ ngày 1/1/2026. Mặc dù theo quy định, số thuế 35,5 triệu đồng đã nộp thuộc diện được xử lý bù trừ hoặc hoàn trả, nhưng khi tra cứu trên hệ thống eTax, hệ thống vẫn chưa hiển thị số nộp thừa, Xin hỏi, tôi có bắt buộc phải nộp tờ khai bổ sung lần 2 trên mẫu số 01/TTS để điều chỉnh doanh thu tính thuế, thuế GTGT và thuế TNCN của kỳ này về 0 thì hệ thống mới ghi nhận số nộp thừa hay không? Về quy định tại khoản 2 Điều 8 Thông tư số 18/2026/TT-BTC (nội dung quy định trường hợp đã kê khai, nộp thuế theo Thông tư số 40/2021/TT-BTC thì không điều chỉnh lại), quy định này có áp dụng cho trường hợp của tôi hay không? Nếu có, tôi phải thực hiện thủ tục gì để số thuế đã nộp được ghi nhận là nộp thừa? Trường hợp phải khai bổ sung, hệ thống eTax hiện nay còn cho phép khai bổ sung trên mẫu số 01/TTS cũ hay tôi phải chuyển sang kê khai theo mẫu số 01/BĐS mới? Trường hợp bắt buộc phải nộp hồ sơ trực tiếp, hồ sơ đề nghị hoàn thuế gồm những giấy tờ gì? Thời điểm tôi được nộp văn bản đề nghị hoàn thuế là ngay bây giờ hay phải chờ đến khi kết thúc kỳ thanh toán còn lại từ ngày 1/7/2026 đến ngày 31/12/2026 (hạn nộp đến 31/1/2027)? Thời gian giải quyết thủ tục hoàn thuế là bao lâu?
Xem chi tiết

Tài chính – Ngân hàng – Công Thương

Trần Minh Tân
Trần Minh Tân - 13:07 30/10/2026

Cơ quan thuế xác minh phản ánh bị DN kê khai khống thu nhập

Trong quá trình kiểm tra thông tin cá nhân, tôi phát hiện một công ty cổ phần đã thực hiện kê khai khống khoản thu nhập chịu thuế TNCN đứng tên tôi. Trên thực tế, tôi chưa từng ký hợp đồng lao động, không làm việc và nhận bất kỳ khoản thu nhập nào từ công ty này. Trước sự việc, tôi đã gửi đơn phản hồi và kiến nghị trực tiếp đến Chi cục Thuế cơ sở 9 TPHCM, yêu cầu lực lượng chức năng vào cuộc kiểm tra, xử lý và xóa bỏ phần kê khai thuế khống nêu trên. Tuy nhiên, sau 2 tuần, tôi vẫn chưa nhận được phản hồi từ phía cơ quan thuế. Tôi đề nghị cơ quan chức năng xem xét, xóa bỏ phần kê khai thu nhập khống từ công ty cổ phần trên hệ thống quản lý thuế, tạo điều kiện để tôi hoàn thành nghĩa vụ quyết toán thuế năm 2025 đúng thời hạn quy định. Đồng thời, tiến hành thanh tra, kiểm tra hành vi kê khai khống thu nhập của công ty cổ phần; yêu cầu đơn vị này giải trình, cung cấp đầy đủ chứng từ và bằng chứng chứng minh việc chi trả thu nhập (nếu có) theo quy định của pháp luật.
Xem chi tiết

Tài chính – Ngân hàng – Công Thương

Nguyễn Chiêm Thành Nghĩa
Nguyễn Chiêm Thành Nghĩa - 08:02 30/10/2026

Khai thác cát lòng sông có phải nộp thuế sử dụng đất?

Công ty tôi đang thực hiện khai thác mỏ cát lòng sông nhằm phục vụ thi công các dự án đường cao tốc. Theo điểm c khoản 2 Điều 2 Nghị định số 53/2011/NĐ-CP quy định về đối tượng chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, đất để khai thác khoáng sản, đất làm mặt bằng chế biến khoáng sản thuộc đối tượng chịu thuế, "trừ trường hợp khai thác khoáng sản mà không ảnh hưởng đến lớp đất mặt hoặc mặt đất". Đối với trường hợp của công ty tôi, khu vực được cơ quan có thẩm quyền cấp phép khai thác là khu vực lòng sông và mặt nước. Hoạt động khai thác cát được thực hiện bằng phương thức hút cát trực tiếp dưới lòng sông theo đúng giấy phép và phương án khai thác đã được phê duyệt. Vị trí khai thác nằm hoàn toàn dưới lòng sông, không thực hiện việc đào, bới, san lấp hay sử dụng lớp đất mặt trên bờ. Xin hỏi, với đặc thù hoạt động khai thác cát lòng sông như trên (không tác động đến lớp đất mặt hoặc mặt đất trên bờ), công ty tôi có phải kê khai và nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hay không?
Xem chi tiết

Tài chính – Ngân hàng – Công Thương

Vũ Trọng Tuệ
Vũ Trọng Tuệ - 09:03 29/10/2026

Điều kiện hưởng mức thu tiền sử dụng đất ưu đãi

Tôi đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp ngày 23/9/2026, diện tích 183,3 m² (hình thức sử dụng riêng), trong đó có 120 m² đất ở đô thị (sử dụng lâu dài) và 63,3 m² đất trồng cây lâu năm (thời hạn sử dụng đến ngày 31/12/2069). Nguồn gốc thửa đất là được nhận thừa kế ngày 26/5/2026 từ Giấy chứng nhận gốc đứng tên hộ bà V.T.Đ. Gia đình đã xây dựng nhà ở và sử dụng ổn định từ năm 1994, không có tranh chấp và đã được cơ quan thuế xác định hình thức sử dụng đất công nhận cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở từ ngày 15/10/2003 đến ngày 1/7/2004 theo thông báo tháng 3/2024. Nay, tôi có nhu cầu xin chuyển mục đích sử dụng đối với phần diện tích 63,3 m² đất trồng cây lâu năm trong cùng thửa đất sang đất ở. Đây là thửa đất duy nhất của tôi xin chuyển mục đích theo điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội và Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31/1/2026 của Chính phủ; đồng thời diện tích 63,3 m² xin chuyển mục đích nằm trong hạn mức giao đất ở theo quy định. Tôi xin hỏi, với các điều kiện thực tế của thửa đất nêu trên, khi tôi thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng 63,3 m² đất trồng cây lâu năm sang đất ở thì có đủ điều kiện được hưởng chính sách tính tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 50/2026/NĐ-CP hay không?
Xem chi tiết
Gửi câu hỏi

Tìm kiếm nhanh

Từ khóa
Tìm trong
Tìm kiếm
Top