Tài chính – Ngân hàng – Công Thương

Hỏi: Căn cứ tính tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sang đất ở

Nguyễn Văn Hiếu - 07:01 16/04/2026

Chi tiết câu hỏi

Thửa đất của tôi có tổng diện tích 667 m², trong đó đã có 300 m² đất ở và 367 m² đất trồng cây lâu năm. Nay, tôi xin chuyển thêm 200 m² đất trồng cây lâu năm sang đất ở, trong khi hạn mức giao đất ở tại địa phương là 200 m². Theo tôi tham khảo quy định tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội và Nghị định số 50/2026/NĐ-CP của Chính phủ khi chuyển mục đích sử dụng đất thì đối với thửa đất có vườn, ao trong cùng thửa đất có đất ở, khi được phép chuyển sang đất ở thì tiền sử dụng đất được tính theo tỷ lệ (30%, 50%...) căn cứ hạn mức giao đất ở tại địa phương. Tôi xin hỏi, khi tính tiền sử dụng đất đối với 200 m² chuyển mục đích, toàn bộ diện tích này có được tính trong hạn mức (áp dụng mức 30%) hay phải trừ đi 300 m² đất ở đã được công nhận trước đó để xác định phần diện tích còn trong hạn mức?

Trả lời

Thuế thành phố Hải Phòng trả lời vấn đề này như sau:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai.

"c) Trường hợp đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở được xác định khi công nhận quyền sử dụng đất mà chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở; chuyển từ đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền sử dụng đất hoặc do đơn vị đo đạc khi đo vẽ bản đồ địa chính trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 đã tự đo đạc tách thành các thửa riêng sang đất ở thì tính tiền sử dụng đất theo mức thu bằng: 30% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở và tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định cho phép chuyên mục đích sử dụng đất (sau đây gọi tắt là chênh lệch) đối với diện tích đất chuyển mục đích sử dụng trong hạn mức giao đất ở tại địa phương; 50% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức nhưng không quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương; 100% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức mà vượt quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương. Mức thu tiền sử dụng đất nêu trên chỉ được tính một lần cho một hộ gia đình, cá nhân (tính trên 01 thửa đất)".

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 6 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 của Chính phủ:

"a) Hạn mức giao đất ở để tính tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều này là hạn mức giao đất ở do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định theo quy định của pháp luật về đất đai được áp dụng tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền".

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 21 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung tại điểm c khoản 12 Điều 13 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 của Chính phủ):

"Căn cứ Phiếu chuyển thông tin (thông tin về người sử dụng đất, diện tích đất, vị trí đất, mục đích sử dụng đất, nguồn gốc sử dụng đất) do Văn phòng đăng ký đất đai hoặc cơ quan có chức năng quản lý đất đai hoặc bộ phận một cửa liên thông chuyển đến; căn cứ Bảng giá đất, mức giảm tiền sử dụng đất được cấp có thẩm quyền xác định hoặc phê duyệt (nếu có), trong thời hạn 05 ngày làm làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan thuế tính số tiền sử dụng đất phải nộp, số tiền sử dụng đất được giảm, ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất, quyết định giảm tiền sử dụng đất (nếu thuộc trường hợp được giảm tiền sử dụng đất)".

Căn cứ các quy định nêu trên, cơ quan thuế căn cứ phiếu chuyển thông tin (trong đó có ghi diện tích đất ở trong hạn mức/ngoài hạn mức, mức giảm tiền sử dụng đất) để thực hiện tính tiền sử dụng đất phải nộp, tiền sử dụng đất được giảm theo quy định.

Trường hợp ông Nguyễn Văn Hiếu có vướng mắc về việc xác định hạn mức đất ở khi đất ở khi chuyển đổi từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở, đề nghị liên hệ với cơ quan có chức năng quản lý đất đai hoặc bộ phận một cửa liên thông để được hướng dẫn cụ thể.