Chi tiết câu hỏi
Trả lời
Bộ Nội vụ trả lời vấn đề này như sau:
Khoản 1 Điều 22 Luật An toàn, vệ sinh lao động quy định: "Nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được phân loại căn cứ vào đặc điểm, điều kiện lao động đặc trưng của mỗi nghề, công việc".
Danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ) ban hành tại Thông tư số 11/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2020 và Thông tư số 19/2023/TT-BLĐTBXH.
Người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được thực hiện đầy đủ các chế độ bảo hộ lao động và chăm sóc sức khỏe theo quy định của pháp luật.
Thông tin mà bà Diễm cung cấp chưa đủ cơ sở để xác định các trường hợp bà nêu có làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hay không. Để có cơ sở xác định, bà cần cung cấp thêm tài liệu liên quan quá trình làm việc, điều kiện làm việc thực tế (như bảng mô tả cụ thể vị trí việc làm; điều kiện lao động; văn bản phân công công việc hoặc văn bản xác nhận quá trình công tác của đơn vị sử dụng lao động; sổ bảo hiểm xã hội;...), gửi trực tiếp tài liệu về Sở Nội vụ địa phương nơi bà làm việc để được hướng dẫn cụ thể.