Chi tiết câu hỏi
Trả lời
Thuế thành phố Hà Nội trả lời vấn đề này như sau:
Về đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, tại khoản 3 Điều 82 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ quy định hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, kinh doanh thời vụ, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký hộ kinh doanh, trừ trường hợp kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Tại khoản 1 Điều 83 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP quy định một cá nhân chỉ được đăng ký một hộ kinh doanh trong phạm vi toàn quốc.
Theo đó, trường hợp người nộp thuế phát sinh thêm hoạt động kinh doanh, thực hiện như sau:
Trường hợp hoạt động kinh doanh mới thuộc trường hợp không phải đăng ký hộ kinh doanh theo khoản 3 Điều 82 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP: Người nộp thuế thực hiện điều chỉnh, bổ sung thông tin đăng ký thuế đối với ngành, nghề kinh doanh phát sinh thêm với cơ quan thuế quản lý trực tiếp theo Mẫu số 08-MST ban hành kèm theo Thông tư số 90/2026/TT-BTC ngày 30/6/2026 của Bộ Tài chính.
Nếu phát sinh địa điểm kinh doanh ngoài trụ sở chính, người nộp thuế thực hiện thông báo địa điểm kinh doanh với cơ quan thuế quản lý trực tiếp trụ sở trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày địa điểm kinh doanh đi vào hoạt động theo điểm d khoản 4 Điều 8 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP.
Trường hợp hoạt động kinh doanh mới thuộc trường hợp phải đăng ký hộ kinh doanh: Người nộp thuế thực hiện thủ tục đăng ký thành lập hộ kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã nơi đặt trụ sở theo quy định tại Nghị định số 168/2025/NĐ-CP. Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký thuế của hộ kinh doanh theo khoản 1 Điều 85 Nghị định số 168/2025/ND-CP.
Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, trường hợp tiếp tục bổ sung, thay đổi ngành, nghề kinh doanh, người nộp thuế thực hiện đăng ký thay đổi nội dung đăng ký hộ kinh doanh với cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có thay đổi theo điểm e khoản 1 Điều 100 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP.
Theo Điều 8, Điều 10 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 141/2026/NĐ-CP, doanh thu năm để xác định ngưỡng và phương pháp thực hiện nghĩa vụ thuế được xác định trên tổng doanh thu từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế, bao gồm cả doanh thu đã được tổ chức, cá nhân khẩu trừ, khai thay, nộp thay. Mức doanh thu không chịu thuế GTGT, không phải nộp thuế TNCN hiện nay là 01 tỷ đồng/năm.
Theo đó:
Đối với hoạt động đại lý bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân khi chi trả thu nhập theo quy định. Doanh thu từ hoạt động này vẫn được tính vào tổng doanh thu kinh doanh trong năm của cá nhân để xác định ngưỡng doanh thu và phương pháp thực hiện nghĩa vụ thuế; số thuế đã được doanh nghiệp bảo hiểm khai thay, nộp thay được theo dõi khi xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế, không thực hiện nộp trùng đối với cùng khoản thu nhập.
Đối với hoạt động kinh doanh phát sinh thêm, người nộp thuế tự theo dõi doanh thu và thực hiện khai, nộp thuế theo quy định tại Điều 8, Điều 10 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 141/2026/NĐ-CP. Trường hợp tổng doanh thu từ các hoạt động kinh doanh trong năm từ 01 tỷ đồng trở xuống, người nộp thuế thực hiện thông báo doanh thu thực tế phát sinh theo quy định; trường hợp tổng doanh thu trên 01 tỷ đồng, người nộp thuế thực hiện khai, nộp thuế theo phương pháp áp dụng đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và theo từng ngành, nghề phát sinh.
Trường hợp người nộp thuế có nhiều địa điểm kinh doanh, người nộp thuế thực hiện khai tổng hợp chung các địa điểm kinh doanh trên 01 hồ sơ khai thuế và nộp hồ sơ cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp trụ sở, đồng thời kê khai doanh thu và nghĩa vụ thuế theo từng địa điểm kinh doanh theo khoản 4 Điều 8 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP.
Căn cứ các quy định nêu trên Thuế TP. Hà Nội đề nghị ông dựa theo tình hình thực tế về khoản thu nhập, nghành nghề phát sinh để thực hiện đúng quy định của pháp luật.