Chi tiết câu hỏi
Trả lời
Thuế Thành phố Hồ Chí Minh trả lời vấn đề này như sau:
Căn cứ khoản 2 Điều 3 Thông tư số 153/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 hướng dẫn về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp:
"2. Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) thì người đang sử dụng đất là người nộp thuế".
Căn cứ khoản 3 Điều 10 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 quy định một số điều của Luật Quản lý thuế:
"3. Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
a) Đối với tổ chức:
a.1) Kê khai lần đầu: Thời hạn nộp hồ sơ chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.
a.2) Trong chu kỳ ổn định, hàng năm tổ chức không phải kê khai lại thuế sử dụng đất phi nông nghiệp nếu không có sự thay đổi về người nộp thuế và các yếu tổ dẫn đến thay đổi số thuế phải nộp.
a.3) Kê khai khi có phát sinh thay đổi các yếu tố làm thay đổi căn cứ tính thuế dẫn đến tăng, giảm số thuế phải nộp và khai bổ sung khi phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế có sai sót ảnh hưởng đến số thuế phải nộp: Thời hạn nộp hồ sơ chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày phát sinh thay đổi.
Khai bổ sung hồ sơ khai thuế được áp dụng đối với: Trường hợp phát sinh các yếu tố làm thay đổi căn cứ tính thuế dẫn đến tăng, giảm số thuế phải nộp; trường hợp phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế có sai sót, nhầm lẫn gây ảnh hưởng đến số thuế phải nộp".
Căn cứ khoản 1 Điều 15 Thông tư số 153/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 hướng dẫn về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp:
"1. Đối với trường hợp khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp phải nộp của năm, hồ sơ gồm:
Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp cho từng thửa đất chịu thuế theo mẫu số 01/TK-SDDPNN áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân hoặc mẫu số 02/TK-SDDPNN áp dụng cho tổ chức, ban hành kèm theo Thông tư này
- Bản chụp các giấy tờ liên quan đến thửa đất chịu thuế như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Quyết định giao đất, Quyết định hoặc Hợp đồng cho thuê đất, Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;
- Bản chụp các giấy tờ chứng minh thuộc diện được miễn, giảm thuế (nếu có)".
Căn cứ các quy định nêu trên, theo trường hợp ông Bách trình bày, Thuế Thành phố Hồ Chí Minh hướng dẫn về mặt nguyên tắc như sau:
Việc chưa có Giấy chứng nhận không miễn trừ nghĩa vụ thuế và người đang thực tế sử dụng đất vẫn là người nộp thuế.
Trong trường hợp chuyển mục đích, doanh nghiệp đang nắm giữ quyết định cho phép chuyển mục đích chính là người đang sử dụng đất theo mục đích mới và có trách nhiệm kê khai nộp thuế.
Doanh nghiệp căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 10 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 và khoản 1 Điều 15 Thông tư số 153/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 để thực hiện việc kê khai nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.
Đề nghị người nộp thuế căn cứ vào tình hình thực tế và đối chiếu với các quy định tại văn bản pháp luật nêu trên để thực hiện đúng quy định.