Lao động – Tiền lương – Người có công

Hỏi: Người lao động góp vốn ở công ty khác có được hưởng trợ cấp thất nghiệp?

Thúy Hạnh - 09:02 29/03/2026

Chi tiết câu hỏi

Tôi xin hỏi, người lao động vừa là Giám đốc không hưởng lương, có vốn góp trong công ty A (có 3 thành viên góp vốn) và có phát sinh hợp đồng lao động với công ty B, tham gia BHXH, bảo hiểm thất nghiệp ở công ty B, thì sau khi nghỉ việc ở công ty B có đủ điều kiện nhận trợ cấp thất nghiệp không? Khi đang nhận trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), người lao động tham gia BHXH ở công ty A theo diện người quản lý không hưởng lương từ tháng 7/2025. Cán bộ bên trung tâm trợ cấp thất nghiệp thông báo người lao động ngừng nhận trợ cấp thất nghiệp và phải hoàn trả tiền trợ cấp tháng 7, 8 vì có vốn góp ở công ty là có nhận hoa hồng, nghĩa là có nhận tiền lương, tiền công, là chủ doanh nghiệp là đã có việc làm. Bà Hạnh hỏi, quy định này có đúng không?

Trả lời

Bộ Nội vụ trả lời vấn đề này như sau:

Theo quy định tại Điều 38 Luật Việc làm thì người lao động quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật này đang đóng BHTN được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật và không thuộc một trong các trường hợp sau đây: Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định của Bộ luật Lao động; người lao động nghỉ việc khi đủ điều kiện hưởng lương hưu.

- Đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật. Trường hợp người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 12 tháng thì phải đóng đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động.

- Đã nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc.

- Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp, người lao động không thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có việc làm và thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo quy định tại Luật BHXH; thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân, dân quân thường trực; đi học tập có thời hạn trên 12 tháng; chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù; ra nước ngoài định cư; chết.

Như vậy, người lao động sau khi nghỉ việc tại công ty B mà đáp ứng đủ 4 điều kiện nêu trên thì được hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 19 Nghị định số 374/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về BHTN thì người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có việc làm và thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo quy định tại Luật BHXH.

Người lao động được xác định là có việc làm khi có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh đối với trường hợp người lao động là chủ hộ kinh doanh hoặc có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với trường hợp người lao động là chủ doanh nghiệp. Ngày mà người lao động được xác định có việc làm là ngày người lao động thông báo với tổ chức dịch vụ việc làm công về việc hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp bắt đầu hoạt động kinh doanh.

Như vậy, người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp mà thuộc trường hợp nêu trên thì bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp kể từ ngày người lao động được xác định là có việc làm.