Chi tiết câu hỏi
Trả lời
Bảo hiểm xã hội tỉnh Thanh Hóa trả lời vấn đề này như sau:
Tại Điều 17 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc quy định:
"Điều 17. Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc:
Tiền lương tháng đóng BHXH đối với người lao động đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại khoản 2 Điều 89 của Luật BHXH được quy định như sau:
1. Từ ngày 01/01/2016 đến ngày 31/12/2017, tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương và phụ cấp lương theo quy định của pháp luật về lao động ghi trong hợp đồng lao động.
2. Từ ngày 01/01/2018 trở đi, tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật về lao động ghi trong hợp đồng lao động".
Tại Điều 7 Nghị định số 158/2025/NĐ-CP ngày 25/6/2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc, quy định:
"Điều 7. Tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc
Tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật BHXH và được quy định chi tiết như sau:
1. Tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 31 của Luật BHXH là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác, trong đó:
a) Mức lương theo công việc hoặc chức danh tính theo thời gian (theo tháng) của công việc hoặc chức danh theo thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng theo quy định tại Điều 93 của Bộ luật Lao động được thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
b) Các khoản phụ cấp lương để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương tại điểm a khoản này chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động; không bao gồm khoản phụ cấp lương phụ thuộc hoặc biến động theo năng suất lao động, quá trình làm việc và chất lượng thực hiện công việc của người lao động;
c) Các khoản bổ sung khác xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương theo quy định tại điểm a khoản này, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động và trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương; không bao gồm các khoản bổ sung khác phụ thuộc hoặc biến động theo năng suất lao động, quá trình làm việc và chất lượng thực hiện công việc của người lao động".
Tại điểm a khoản 1 Điều 55 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động, quy định:
"a) Tiền lương giờ thực trả của công việc đang làm vào ngày làm việc bình thường, được xác định bằng tiền lương thực trả của công việc đang làm của tháng hoặc tuần hoặc ngày mà người lao động làm thêm giờ (không bao gồm tiền lương làm thêm giờ, tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm, tiền lương của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương theo quy định của Bộ luật Lao động; tiền thưởng theo quy định tại Điều 104 của Bộ luật Lao động, tiền thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca, các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi có thân nhân bị chết, người lao động có người thân kết hôn, sinh nhật của người lao động, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác không liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động) chia cho tổng số giờ thực tế làm việc tương ứng trong tháng hoặc tuần hoặc ngày người lao động làm thêm giờ (không quá số ngày làm việc bình thường trong tháng và số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, 01 tuần theo quy định của pháp luật mà doanh nghiệp lựa chọn và không kể số giờ làm thêm)".
Theo nội dung bà Hoan phản ánh, khi giữ chức danh an toàn vệ sinh viên, người này được hưởng thêm phụ cấp trách nhiệm theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 74 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015. Việc này được thực hiện căn cứ vào thỏa thuận của người sử dụng lao động và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở và được ghi cụ thể trong quy chế hoạt động của mạng lưới an toàn, vệ sinh viên. Việc chi trả dựa theo hiệu quả công việc hằng tháng như sau: Xếp loại A được hưởng 100% mức hưởng, loại B được hưởng 80%, loại C được hưởng 60%, Loại D hoặc không xếp loại 40%.
Đối chiếu với quy định tại khoản 1, 2, 3 nêu trên: Khoản phụ cấp trách nhiệm an toàn vệ sinh viên được chi trả dựa theo hiệu quả công việc hằng tháng, mức hưởng không cố định mà thay đổi theo kết quả xếp loại. Do đó, khoản phụ cấp trách nhiệm này không thuộc tiền lương thực trả để tính lương làm thêm giờ cho người lao động.
Khoản phụ cấp trách nhiệm này không được ghi, không được thỏa thuận trong hợp đồng lao động và không được trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương. Vì vậy khoản phụ cấp trách nhiệm trong trường hợp này không phải tính vào tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc.