Xây dựng - Nông nghiệp - Môi trường

Hỏi: Vườn thú bổ sung động vật mới, cần làm thủ tục gì?

Nguyễn Hữu Phát - 09:03 29/07/2026

Chi tiết câu hỏi

Công ty tôi được thành lập năm 2021 với ngành nghề đăng ký hoạt động kinh doanh chính là trồng trọt, du lịch sinh thái, trong đó có ngành nghề kinh doanh vườn thú theo mô hình vườn thú thân thiện. Ngày 06/01/2022, Chi cục Kiểm Lâm tỉnh (cũ) ban hành quyết định về việc cấp mã số cơ sở nuôi động vật hoang dã nguy cấp thuộc Phụ lục II Cites cho cơ sở nuôi của công ty tôi. Tại quyết định này, Chi cục Kiểm lâm cấp mã số nuôi cho công ty gồm: Chồn đất cầy vần 05 cá thể, Chuột lang 01 cá thể, Rùa cựa Châu phi 01 cá thể, Chuột túi Wallaby 09 cá thể, Ngựa lùn Pony 03 cá thể, thuộc Phụ lục II Cites. Ngày 21/01/2022, Chi cục Kiểm Lâm tiếp tục ban hành quyết định về việc cấp mã số cơ sở nuôi động vật hoang dã nguy cấp thuộc Phụ lục II Cites cho cơ sở nuôi của công ty. Tại quyết định này, Chi cục Kiểm lâm cấp mã số nuôi cho 39 cá thể, gồm: Raccoon (Procyon lotor) 03 cá thể; Alpaca (Vicugna) 03 cá thể; Chuột lang (Hydrochoerus hydrochaeris) 01 cá thể; Nai (Rusa unicolor) 12 cá thể; Công Ấn Độ (Pavo cristatus) 20 cá thể. Các loài động vật thuộc Phụ lục II của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật hoang dã nguy cấp (Cites) và động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIB. Như vậy, công ty tôi đã được cấp mã số cơ sở nuôi đối với các loài động vật thuộc Phụ lục II Cites và động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIB đối với các loài động vật được liệt kê trong 02 quyết định nêu trên. Tháng 01/2024, công ty tôi ký hợp đồng mua 20 cá thể cá sấu nước ngọt Cá sấu Xiêm (Crocodylus siamensis) của Công ty TNHH Du lịch sinh thái VX (Công ty VX có giấy chứng nhận Cites ngày 21/10/2013). Khi mang cá sấu về nuôi tại vườn thú của công ty, công ty tôi đã thông báo cho chính quyền địa phương, Cơ quan Kiểm Lâm sở tại và được hướng dẫn, vì loài cá sấu nước ngọt Cá sấu Xiêm (Crocodylus siamensis) là loài động vật thuộc Phụ lục I Cites và thuộc loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB nên thẩm quyền cấp mã số cơ sở nuôi thuộc Cơ quan thẩm quyền quản lý Cites Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều lần nộp hồ sơ xin cấp mã số cơ sở nuôi cho loài cá sấu nước ngọt Cá sấu xiêm tại Cơ quan thẩm quyền quản lý Cites Việt Nam công ty tôi đều không nhận được phản hồi. Đến ngày 01/7/2025, Thông tư số 27/2025/TT-BNNMT có hiệu lực, căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 38 của Thông tư này thì cơ sở nuôi động vật nguy cấp, quý, hiếm, động vật thuộc Phụ lục Công ước CITES trước ngày 01/7/2025 nhưng chưa được cấp mã số cơ sở nuôi có thời hạn 24 (tháng kể từ ngày 01/7/2025) để nộp hồ sơ đề nghị cấp mã số cơ sở nuôi theo quy định tại Thông tư này. Căn cứ quy định này, công ty tôi tiếp tục nộp hồ sơ đăng ký cấp lại mã số cơ sở nuôi theo quy định tại Thông tư số 27/2025/TT-BNNMT. Tuy nhiên hiện nay công ty vẫn chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp mã số cơ sở nuôi cho loài cá sấu nước ngọt Cá sấu Xiêm. Đến ngày 01/01/2026, Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT có hiệu lực, trong đó khoản 5 Điều 38 Thông tư này quy định: “Trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành, Cơ quan cấp mã số quy định tại Thông tư này thực hiện rà soát, cấp sửa đổi, bổ sung mã số cho các cơ sở nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng đã được cấp mã số trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực theo hình thức nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng phù hợp quy định tại Thông tư này. Tổ chức, cá nhân nộp lại bản chính mã số cơ sở đã được cấp và được miễn nộp lại hồ sơ đề nghị cấp mã số cơ sở nuôi theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Thông tư này". Để hiểu đúng và thực hiện đúng các quy định tại Điều 38 Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT tôi đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường giải thích rõ các nội dung sau: (1) Công ty tôi đã được cấp mã số cơ sở nuôi đối với các loài động vật thuộc Phụ lục II Cites và loài động vật rừng thuộc danh mục nhóm IIB, từ năm 2024 đến nay công ty có thực hiện thủ tục đăng ký bổ sung thêm loài cá sấu nước ngọt Cá sấu Xiêm thuộc loài động vật thuộc Phụ lục I Cites và thuộc loài động vật rừng thuộc danh mục nhóm IB với hình thức nuôi là nuôi sinh sản và mục đích nuôi là nuôi thương mại trong nước nhưng đến nay chưa được cấp mã số cơ sở nuôi đối với loài động vật này thì công ty tôi có thuộc trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 38 Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT để được cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc rà soát cấp sửa đổi, bổ sung mã số cơ sở nuôi cho công ty không? (2) Nếu công ty không thuộc trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 38 Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT thì công ty có thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 38 Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT (có thời hạn 24 tháng kể từ ngày Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT có hiệu lực (ngày 01/01/2026) để tiếp tục thực hiện thủ tục cấp sửa đổi, bổ sung mã số cơ sở nuôi) không? (3) Trước ngày 01/7/2025 có quy định nào của pháp luật quy định về trường hợp cấp sửa đổi, bổ sung hoặc cấp lại mã số cơ sở nuôi (trong trường hợp bổ sung loài động vật thuộc Phụ lục I Cites và nhóm IB) đối với cơ sở nuôi đã được cấp mã số cơ sở nuôi thuộc Phụ lục II Cites và nhóm IIB không? Và có quy định nào của pháp luật quy định về thẩm quyền và trình tự, thủ tục thu hồi hoặc hủy mã số cơ sở nuôi thuộc Phụ lục II Cites và nhóm IIB của Chi cục Kiểm Lâm cấp tỉnh đã cấp cho cơ sở nuôi để Cơ quan thẩm quyền quản lý Cites Việt Nam cấp mã số cơ sở nuôi mới cho cơ sở nuôi như trường hợp của công ty tôi nêu trên không? (4) Trường hợp pháp luật chưa có quy định về vấn đề nêu tại mục 3 và do Cơ quan thẩm quyền quản lý Cites Việt Nam không giải quyết hồ sơ cho công ty thì việc công ty nuôi loài động vật cá sấu nước ngọt Cá sấu Xiêm (thuộc Phụ lục I Cites và nhóm IB) từ năm 2024 đến ngày 01/7/2025 có vi phạm pháp luật hay không? (5) Vì sao Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 nhưng hiện nay trên Cổng dịch vụ công vẫn thể hiện thành phần tiếp nhận hồ sơ của thủ tục cấp sửa đổi, bổ sung mã số cơ sở nuôi động vật, thực vật thuộc Phụ lục Cites vẫn thể hiện thành phần hồ sơ theo mẫu của Thông tư số 27/2025/TT-BNNMT và thời hạn giải quyết hồ sơ là 24 ngày làm việc theo quy định tại Điều 26 Thông tư số 27/2025/TT-BNNMT (đã hết hiệu lực thi hành) mà không thực hiện việc cập nhật thành phần hồ sơ và thời hạn giải quyết theo quy định tại Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT đang có hiệu lực thi hành?

Trả lời

Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:

Trường hợp cấp sửa đổi, bổ sung thông tin mã số cơ sở nuôi

Khoản 5 Điều 38 Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT ngày 31/12/2025 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định về quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm, loài động vật rừng thông thường và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp quy định như sau:

"5. Trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành, Cơ quan cấp mã số quy định tại Thông tư này thực hiện rà soát, cấp sửa đổi, bổ sung mã số cho các cơ sở nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng đã được cấp mã số trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực theo hình thức nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng phù hợp quy định tại Thông tư này. Tổ chức, cá nhân nộp lại bản chính mã số cơ sở đã được cấp và được miễn nộp lại hồ sơ đề nghị cấp mã số cơ sở nuôi theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Thông tư này".

Như vậy, trường hợp các cơ sở nuôi đã được cấp mã số nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng trước thời điểm Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT có hiệu lực thi hành nhưng có bổ sung thêm loài nuôi mới không thuộc trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 38 mà thuộc trường hợp cấp sửa đổi, bổ sung thông tin mã số cơ sở nuôi được quy định tại khoản 5 Điều 26 Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT.

Cơ sở nuôi nhiều loài phải đăng ký theo loài có mức độ bảo vệ cao nhất

Trước thời điểm ngày 01/7/2025, việc quản lý nuôi, trồng các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp thuộc Phụ lục CITES thực hiện theo quy định tại Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 84/2021/NĐ-CP (sau đây gọi chung là Nghị định số 06/2019/NĐ-CP).

Nghị định số 06/2019/NĐ-CP không quy định cấp sửa đổi, bổ sung, cấp lại hoặc thu hồi mã số trong trường hợp bổ sung thêm loài nuôi hoặc thu hồi mã số cơ sở nuôi.

Trường hợp hủy mã số cơ sở nuôi được quy định tại khoản 5 Điều 17 Nghị định số 06/2019/NĐ-CP.

Tuy nhiên, khoản 3 Điều 16 Nghị định số 06/2019/NĐ-CP quy định:

"Trong trường hợp cơ sở nuôi, trồng đồng thời mẫu vật của nhiều loài có quy chế bảo vệ khác nhau thì mã số của cơ sở nuôi, trồng theo loài có quy chế quản lý, bảo vệ cao nhất".

Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 84/2021/NĐ-CP quy định:

"Đối với các cơ sở nuôi, cơ sở trồng thuộc đối tượng phải đăng ký mã số cơ sở theo quy định tại Nghị định này, trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, chủ các cơ sở nuôi, cơ sở trồng phải thực hiện lập hồ sơ đề nghị cấp mã số cơ sở nuôi, cơ sở trồng, gửi cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Nghị định số 06/2019/NĐ-CP".

Sổ theo dõi hoạt động nuôi động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, động vật hoang dã nguy cấp thuộc Phụ lục CITES, động vật rừng thông thường (Mẫu số 16 Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP) có quy định thông tin về Mã số cơ sở nuôi.

Tại điểm a khoản 1 Điều 21 Thông tư số 26/2022/TT-BNNPTNT ngày 30/12/2022 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản (hết hiệu lực kể từ ngày 01/7/2025) quy định hồ sơ lâm sản tại cơ sở nuôi các loài động vật rừng; động vật thuộc Phụ lục CITES:

"a) Mã số cơ sở nuôi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp đối với cơ sở nuôi động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; động vật hoang dã nguy cấp thuộc các Phụ lục CITES;".

Bên cạnh đó, điểm b khoản 3 Điều 24 Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp, được sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 07/2022/NĐ-CP quy định:

"Chủ cơ sở nuôi, trồng loài thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm hoặc các loài thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp có nguồn gốc hợp pháp nhưng không đăng ký mã số cơ sở nuôi, trồng theo quy định của pháp luật".

Đối với nội dung thông tin thành phần hồ sơ của thủ tục cấp sửa đổi, bổ sung mã số cơ sở nuôi động vật, thực vật thuộc Phụ lục CITES vẫn thể hiện thành phần hồ sơ và thời gian giải quyết hồ sơ theo quy định tại Thông tư số 27/2025/TT-BNNMT trên Cổng dịch vụ công, Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam ghi nhận thông tin và chuyển tới Cục Chuyển đổi số để chỉnh sửa, cập nhật.