Chi tiết câu hỏi
Trả lời
Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:
Khoản 5 Điều 38 Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT ngày 31/12/2025 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định về quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm, loài động vật rừng thông thường và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp quy định như sau:
"5. Trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành, Cơ quan cấp mã số quy định tại Thông tư này thực hiện rà soát, cấp sửa đổi, bổ sung mã số cho các cơ sở nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng đã được cấp mã số trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực theo hình thức nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng phù hợp quy định tại Thông tư này. Tổ chức, cá nhân nộp lại bản chính mã số cơ sở đã được cấp và được miễn nộp lại hồ sơ đề nghị cấp mã số cơ sở nuôi theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Thông tư này".
Như vậy, trường hợp các cơ sở nuôi đã được cấp mã số nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng trước thời điểm Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT có hiệu lực thi hành nhưng có bổ sung thêm loài nuôi mới không thuộc trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 38 mà thuộc trường hợp cấp sửa đổi, bổ sung thông tin mã số cơ sở nuôi được quy định tại khoản 5 Điều 26 Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT.
Trước thời điểm ngày 01/7/2025, việc quản lý nuôi, trồng các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp thuộc Phụ lục CITES thực hiện theo quy định tại Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 84/2021/NĐ-CP (sau đây gọi chung là Nghị định số 06/2019/NĐ-CP).
Nghị định số 06/2019/NĐ-CP không quy định cấp sửa đổi, bổ sung, cấp lại hoặc thu hồi mã số trong trường hợp bổ sung thêm loài nuôi hoặc thu hồi mã số cơ sở nuôi.
Trường hợp hủy mã số cơ sở nuôi được quy định tại khoản 5 Điều 17 Nghị định số 06/2019/NĐ-CP.
Tuy nhiên, khoản 3 Điều 16 Nghị định số 06/2019/NĐ-CP quy định:
"Trong trường hợp cơ sở nuôi, trồng đồng thời mẫu vật của nhiều loài có quy chế bảo vệ khác nhau thì mã số của cơ sở nuôi, trồng theo loài có quy chế quản lý, bảo vệ cao nhất".
Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 84/2021/NĐ-CP quy định:
"Đối với các cơ sở nuôi, cơ sở trồng thuộc đối tượng phải đăng ký mã số cơ sở theo quy định tại Nghị định này, trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, chủ các cơ sở nuôi, cơ sở trồng phải thực hiện lập hồ sơ đề nghị cấp mã số cơ sở nuôi, cơ sở trồng, gửi cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Nghị định số 06/2019/NĐ-CP".
Sổ theo dõi hoạt động nuôi động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, động vật hoang dã nguy cấp thuộc Phụ lục CITES, động vật rừng thông thường (Mẫu số 16 Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP) có quy định thông tin về Mã số cơ sở nuôi.
Tại điểm a khoản 1 Điều 21 Thông tư số 26/2022/TT-BNNPTNT ngày 30/12/2022 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản (hết hiệu lực kể từ ngày 01/7/2025) quy định hồ sơ lâm sản tại cơ sở nuôi các loài động vật rừng; động vật thuộc Phụ lục CITES:
"a) Mã số cơ sở nuôi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp đối với cơ sở nuôi động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; động vật hoang dã nguy cấp thuộc các Phụ lục CITES;".
Bên cạnh đó, điểm b khoản 3 Điều 24 Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp, được sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 07/2022/NĐ-CP quy định:
"Chủ cơ sở nuôi, trồng loài thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm hoặc các loài thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp có nguồn gốc hợp pháp nhưng không đăng ký mã số cơ sở nuôi, trồng theo quy định của pháp luật".
Đối với nội dung thông tin thành phần hồ sơ của thủ tục cấp sửa đổi, bổ sung mã số cơ sở nuôi động vật, thực vật thuộc Phụ lục CITES vẫn thể hiện thành phần hồ sơ và thời gian giải quyết hồ sơ theo quy định tại Thông tư số 27/2025/TT-BNNMT trên Cổng dịch vụ công, Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam ghi nhận thông tin và chuyển tới Cục Chuyển đổi số để chỉnh sửa, cập nhật.