Gửi câu hỏi
Tài chính – Ngân hàng – Công Thương

Hỏi: Giấy tờ chứng minh đã nộp tiền sử dụng đất

Lương Hoàn - 13:07 21/07/2026

Chi tiết câu hỏi

Tôi mua đất do xã bán vào năm 1996. Xã cấp cho người dân giấy biên nhận tiền có dấu treo, chữ ký trưởng thôn và đại diện xã. Vừa qua, tôi đề nghị xã trích sao sổ sách, hồ sơ lưu thể hiện việc đã nộp tiền cho UBND xã theo giấy biên nhận trên, tuy nhiên UBND xã trao đổi, do thời gian đã lâu nên UBND xã không còn lưu hồ sơ, sổ sách liên quan đến số tiền mà người dân đã nộp để được sử dụng đất. UBND xã hiện tại đã kiểm tra và xác minh có sự việc mua bán tại thời điểm đó. Nếu căn cứ điểm c khoản 5 Điều 12 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP thì đây không phải là giấy tờ chứng minh đã nộp tiền, không được trừ tiền sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận theo quy định hiện hành. Tôi cho rằng quy định tại Nghị định đang mâu thuẫn với thực tế, ảnh hưởng lớn đến quyền lợi người dân. Tôi đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, có hướng giải quyết.

Trả lời

Bộ Tài chính trả lời vấn đề này như sau:

Tại khoản 5 Điều 12, khoản 2 Điều 48 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ quy định về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất quy định:

"Điều 12. Tính tiền sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận đối với các trường hợp đang sử dụng đất được giao không đúng thẩm quyền quy định tại Điều 140 Luật Đất đai

… 5. Giấy tờ chứng minh về việc đã nộp tiền cho cơ quan, tổ chức để được sử dụng đất khi tính tiền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này bao gồm:

a) Biên lai, phiếu thu, hóa đơn thu tiền để được sử dụng đất, thu tiền đền bù theo Quyết định số 186/HĐBT ngày 31 tháng 5 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác.

b) Biên lai, phiếu thu, hóa đơn thu tiền theo Thông tư số 60/TC-TCT ngày 16 tháng 7 năm 1993 của Bộ Tài chính về hướng dẫn chế độ quản lý thu đối với việc bán nhà thuộc sở hữu nhà nước, việc cấp quyền sử dụng đất xây dựng nhà ở và công trình.

c) Biên lai, phiếu thu, hóa đơn chứng minh đã nộp tiền để được sử dụng đất của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc của cơ quan, tổ chức đã giao đất không đúng thẩm quyền.

d) Trường hợp giấy tờ quy định tại điểm a, b và c khoản này bị mất, thất lạc nhưng tại Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức đã giao đất không đúng thẩm quyền còn giấy tờ (hồ sơ) lưu trữ và ghi chép về việc người sử dụng đất đã nộp tiền để được sử dụng đất thì người sử dụng đất đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận hoặc sao y bản chính. Bản xác nhận hoặc sao y bản chính tại điểm này được công nhận là giấy tờ chứng minh về việc đã nộp tiền cho cơ quan, tổ chức như giấy tờ tại điểm a, b và c khoản này.

… Điều 48. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

…2. Chỉ đạo các cơ quan chức năng của địa phương khẩn trương hoàn thiện hồ sơ pháp lý về đất đai đối với người sử dụng đất để tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất".

Như vậy, tại khoản 5 Điều 12, khoản 2 Điều 48 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định chi tiết giấy tờ chứng minh về việc đã nộp tiền cho cơ quan, tổ chức để được sử dụng đất khi tính tiền sử dụng đất.

Theo phản ánh ông Hoàn thì "UBND xã trao đổi do thời gian đã lâu nên UBND xã không còn lưu hồ sơ sổ sách liên quan đến số tiền mà người dân đã nộp để được sử dụng đất. UBND xã hiện tại đã kiểm tra và xác minh có sự việc mua bán tại thời điểm đó"; việc xác minh, đánh giá hồ sơ, tài liệu và giải quyết vụ việc thuộc trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tại địa phương theo quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị ông liên hệ với cơ quan có thẩm quyền ở địa phương để được giải quyết theo quy định của pháp luật.

Gửi câu hỏi

Tìm kiếm nhanh

Từ khóa
Tìm trong
Tìm kiếm
Top