Hỏi: Khi nào dự án được gia hạn tiến độ quá 24 tháng?
Chi tiết câu hỏi
Trả lời
Bộ Tài chính trả lời vấn đề này như sau:
Về việc điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án đầu tư quá 24 tháng: Theo quy định tại khoản 4 Điều 41 Luật Đầu tư năm 2020 và khoản 4 Điều 33 Luật Đầu tư năm 2025, đối với dự án đầu tư được chấp thuận chủ trương đầu tư, nhà đầu tư không được điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án đầu tư quá 24 tháng so với tiến độ thực hiện dự án đầu tư quy định tại văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư lần đầu, trừ một trong các trường hợp sau đây:
"a) Để khắc phục hậu quả trong trường hợp bất khả kháng theo quy định của pháp luật về dân sự và pháp luật về đất đai;
b) Điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án đầu tư do nhà đầu tư chậm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;
c) Điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án đầu tư theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước hoặc cơ quan nhà nước chậm thực hiện thủ tục hành chính;
d) Điều chỉnh dự án đầu tư do cơ quan nhà nước thay đổi quy hoạch;
đ) Thay đổi mục tiêu đã được quy định tại văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư; bổ sung mục tiêu thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư;
e) Tăng tổng vốn đầu tư từ 20% trở lên làm thay đổi quy mô dự án đầu tư.
g) Trường hợp khác theo quy định của Chính phủ."
Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp dự án đầu tư đã được chấp thuận chủ trương đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2020, nhà đầu tư không được điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án đầu tư quá 24 tháng so với tiến độ thực hiện dự án đầu tư quy định tại văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư lần đầu nếu không thuộc các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và g khoản 4 Điều 33 Luật Đầu tư năm 2025.
Về việc nhà đầu tư có nhu cầu điều chỉnh theo quy định tại khoản 5 Điều 102 Nghị định số 96/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư, tại khoản 5 Điều 102 Nghị định số 96/2026/NĐ-CP quy định:
"Đối với dự án thuộc diện quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật trước ngày Luật Đầu tư có hiệu lực thi hành nhưng không thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định tại khoản 3 Điều 52 của Luật Đầu tư và Nghị định này, khi thực hiện điều chỉnh dự án, nhà đầu tư không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư.
Trường hợp có nhu cầu điều chỉnh, nhà đầu tư thực hiện thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư theo quy định tại khoản 3 Điều 53 Nghị định này đối với nội dung dự án đầu tư thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật Đầu tư…".
Theo quy định tại khoản 3 Điều 52 Luật Đầu tư năm 2025, đối với dự án thuộc diện quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành nhưng không thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Luật này, nhà đầu tư không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư, trừ trường hợp nhà đầu tư có nhu cầu điều chỉnh.
Như vậy, việc điều chỉnh chủ trương đầu tư khi nhà đầu tư có nhu cầu theo quy định tại khoản 5 Điều 102 Nghị định số 96/2026/NĐ-CP áp dụng trong trường hợp dự án thuộc diện quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật trước ngày Luật Đầu tư có hiệu lực thi hành nhưng nay không thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định tại Luật Đầu tư năm 2025.
Tuy nhiên, trong trường hợp này, việc điều chỉnh tiến độ quá 24 tháng phải đáp ứng điều kiện như phân tích tại mục 1 công văn này.
Trên đây là ý kiến của Bộ Tài chính gửi ông Vũ Thành Nam để nghiên cứu, thực hiện theo quy định pháp luật.
Câu hỏi xem nhiều nhất
Đất nông nghiệp đã xây nhà, có được chuyển sang đất ở?
Doanh thu dưới 1 tỷ, hộ kinh doanh có phải thông báo số tài khoản?
Nguyên tắc và điều kiện tách thửa đất
Mua nhà ở xã hội chưa đủ 5 năm, có được cho thuê lại?
Các trường hợp phải nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Giấy xác nhận đăng ký đất đai có còn giá trị sử dụng?
Tìm kiếm