Gửi câu hỏi
Văn hóa – Xã hội

Hỏi: Làm rõ yêu cầu về minh chứng khi xét thăng hạng giáo viên

Hoàng Thị Loan - 10:04 18/09/2026

Chi tiết câu hỏi

Thời gian qua, trong quá trình tổ chức xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên tiểu học, nhiều giáo viên phản ánh việc hướng dẫn và yêu cầu về minh chứng giữa các địa phương còn thiếu thống nhất, dù cùng căn cứ vào các thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Theo tôi tham khảo, có địa phương không yêu cầu giáo viên nộp minh chứng cụ thể đối với tiêu chuẩn tại điểm đ khoản 4 Điều 4 Thông tư số 02/2021/TT-BGDĐT về nội dung: "Vận dụng được các kết quả nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng vào thực tiễn giảng dạy, giáo dục; có khả năng đánh giá hoặc hướng dẫn đồng nghiệp làm các sản phẩm nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng từ cấp trường trở lên". Ngược lại, một số địa phương lại bắt buộc giáo viên phải có Quyết định tham gia Ban giám khảo chấm sáng kiến kinh nghiệm thì mới tiếp nhận hồ sơ. Sự khác biệt này khiến đội ngũ nhà giáo băn khoăn về căn cứ pháp lý. Hơn nữa, việc Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành các Thông tư số 30/2026/TT-BGDĐT và Thông tư số 31/2026/TT-BGDĐT thay thế, bãi bỏ quy định cũ càng làm gia tăng lúng túng. Tôi xin hỏi, khi xét thăng hạng hiện nay, địa phương phải áp dụng Thông tư số 02/2021/TT-BGDĐT (đã sửa đổi bởi Thông tư 08/2023/TT-BGDĐT) hay áp dụng các quy định mới tại Thông tư số 30/2026/TT-BGDĐT và Thông tư số 31/2026/TT-BGDĐT? Đối với tiêu chuẩn năng lực chuyên môn có nội dung "có khả năng đánh giá hoặc hướng dẫn đồng nghiệp...", khi pháp luật không ấn định một loại giấy tờ cố định, giáo viên có bắt buộc phải nộp "Quyết định tham gia Ban giám khảo chấm sáng kiến" không? Hay có thể dùng các minh chứng hợp pháp khác như giấy chứng nhận đạt sáng kiến, báo cáo hội thảo chuyên đề cấp trường, biên bản góp ý sản phẩm nghiên cứu? Nếu Trung ương không quy định cụ thể loại minh chứng, cơ quan tại địa phương có được phép tự ý đặt ra "điều kiện cứng" (như bắt buộc có quyết định chấm sáng kiến) làm rào cản từ chối tiếp nhận hồ sơ của giáo viên hay không?

Trả lời

Bộ Giáo dục và Đào tạo trả lời vấn đề này như sau:

Văn bản áp dụng khi xét thăng hạng

Tại khoản 1 Điều 25 Nghị định số 93/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà giáo quy định:

"Trường hợp đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt đề án, kế hoạch tổ chức tuyển dụng, tiếp nhận nhà giáo, xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp nhà giáo trước ngày 30 tháng 6 năm 2026 thì được tiếp tục thực hiện theo đề án, kế hoạch đã được phê duyệt đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2026. Trong đó, các tiêu chuẩn về chức danh nghề nghiệp, thăng hạng chức danh nghề nghiệp, chuẩn nghề nghiệp giáo viên, chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của nhà giáo thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành".

Do đó, khi thực hiện đề án, kế hoạch xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên được cấp có thẩm quyền phê duyệt trước ngày 30/6/2026 thì địa phương được sử dụng các quy định về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên tiểu học tại Thông tư số 02/2021/TT-BGDĐT ngày 02/02/2021 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và bổ nhiệm, xếp lương viên chức giảng dạy trong trường tiểu học công lập được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 08/2023/TT-BGDĐT ngày 14/4/2023 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; Thông tư số 13/2024/TT-BGDĐT ngày 30/10/2024 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định tiêu chuẩn, điều kiện xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non, phổ thông công lập và giáo viên dự bị đại học.

Minh chứng tiêu chuẩn khi đăng ký dự xét thăng hạng

Tại khoản 3 Điều 14 Thông tư số 13/2024/TT-BGDĐT ngày 30/10/2024 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định tiêu chuẩn, điều kiện xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non, phổ thông công lập và giáo viên dự bị đại học quy định:

"Đối với các tiêu chuẩn không có minh chứng là các văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận, quyết định, bằng khen, giấy khen, đề tài, đề án hoặc sản phẩm được ứng dụng trong giáo dục, giảng dạy học sinh và tài liệu có liên quan thì minh chứng là biên bản đánh giá, nhận xét về khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn đó của tổ chuyên môn, tổ bộ môn hoặc tương đương và có xác nhận của người đứng đầu cơ sở giáo dục trực tiếp quản lý, sử dụng giáo viên".

Do đó, trường hợp giáo viên không có văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận, quyết định, bằng khen, giấy khen, đề tài, đề án hoặc sản phẩm được ứng dụng trong giáo dục, giảng dạy học sinh và tài liệu có liên quan để làm minh chứng cho việc đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định thì có thể sử dụng biên bản đánh giá, nhận xét của tổ chuyên môn, tổ bộ môn hoặc tương đương và có xác nhận của hiệu trưởng.

Thẩm quyền hướng dẫn xét thăng hạng

Khi tổ chức xét thăng hạng, cơ quan có thẩm quyền xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp tại địa phương phải xây dựng Đề án tổ chức xét thăng hạng bảo đảm các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức.

Đồng thời, Hội đồng xét thăng hạng của địa phương có nhiệm vụ và quyền hạn trong việc thông báo nội dung xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 38 Nghị định số 115/2020/NĐ-CP.

Do đó, việc địa phương làm rõ nội dung yêu cầu về các tiêu chuẩn, điều kiện xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp là cần thiết để bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật.

Gửi câu hỏi

Tìm kiếm nhanh

Từ khóa
Tìm trong
Tìm kiếm
Top