Tìm kiếm
Danh sách câu hỏi
Xây dựng - Nông nghiệp - Môi trường
Tài chính – Ngân hàng – Công Thương
Có tính giảm phí dự phòng khi giảm giá dự thầu?
Bên mời thầu tổ chức mời thầu gói thầu xây lắp theo phương thức một giai đoạn, hai túi hồ sơ, hợp đồng theo hình thức đơn giá cố định. Hồ sơ mời thầu yêu cầu các nhà thầu chào giá dự thầu thành 2 phần: Phần chào giá theo khối lượng công việc hạng mục mời thầu và phần dự phòng phí.
Nhà thầu A chào giá dự thầu 55 tỷ đồng, trong đó 53 tỷ đồng là giá chào cho các khối lượng công việc hạng mục mời thầu theo hồ sơ mời thầu và 2 tỷ đồng cho dự phòng phí. Nhà thầu có thư giảm giá 4 tỷ đồng trên giá dự thầu (không ghi giảm cụ thể cho hạng mục nào dự thầu).
Tổ chấm thầu khi xác định đơn giá dự thầu sau giảm giá của nhà thầu A thì có 2 quan điểm:
- Quan điểm thứ 1: Phần giảm giá 4 tỷ đồng của nhà thầu được tính giảm đều trên giá dự thầu, vì vậy phần dự phòng phí cũng giảm theo.
- Quan điểm thứ 2: Phần giảm giá 4 tỷ đồng của nhà thầu được tính giảm đều trên hạng mục dự thầu mà nhà thầu liệt kê tham gia, không tính giảm cho dự phòng phí do dự phòng phí không phải là hạng mục dự thầu. Vì vậy phần dự phòng phí là cố định, không điều chỉnh giảm giá.
Cả hai quan điểm đều dẫn đến tổng giá dự thầu sau giảm giá của nhà thầu A là bằng nhau. Tuy nhiên, đơn giá cố định cho từng công việc, sau khi điều chỉnh giảm giá là khác nhau theo hai quan điểm trên.
Điều này dẫn đến việc thanh toán cho nhà thầu sau này (nếu trúng thầu) là khác nhau.
Cho tôi hỏi, quan điểm nào chuẩn xác trong trường hợp này?
Xây dựng - Nông nghiệp - Môi trường
Phải sử dụng đất theo đúng mục đích ghi trong sổ đỏ
Tài chính – Ngân hàng – Công Thương
Điều kiện chọn nhà thầu xây lắp công trình cấp II
Cho tôi hỏi, nếu doanh nghiệp cấp nhỏ và siêu nhỏ không đáp ứng được điều kiện năng lực xây lắp công trình hạng II thì có thể tham gia dự thầu được không? Nếu không thì xử lý tình huống này như thế nào?
Xây dựng - Nông nghiệp - Môi trường
Không quy định số nhân sự tối thiểu trong ban quản lý dự án
Theo Nghị định 59/2015/NĐ-CP và Nghị định 42/2017/NĐ-CP về năng lực của các tổ chức hoạt động xây dựng như tổ chức quản lý dự án, tổ chức tư vấn giám sát,... thì các tổ chức này phải có đủ năng lực của người đứng đầu và các cá nhân tham gia cũng như số lượng người để tham gia để quản lý được dự án nhóm A, nhóm B hoặc nhóm C. Tuy nhiên, Nghị định 100/2018/NĐ-CP không quy định số lượng người tối thiểu trong các tổ chức để tham gia các dự án nhóm A, nhóm B hoặc nhóm C. Tôi xin hỏi, vậy đối với dự án giao thông nhóm A có tổng mức đầu tư trên 1.500 tỷ đồng mà chỉ cần tổ chức quản lý dự án có một giám đốc quản lý dự án và một cán bộ quản lý dự án có đủ năng lực là đủ để quản lý được hay phải cần tối thiểu bao nhiêu người để quản lý và số người tối thiểu đó giờ được quy định ở văn bản pháp lý nào? Tương tự như vậy cho tổ chức tư vấn giám sát?