Trường hợp nào được ủy quyền đăng ký sở hữu công nghiệp?
Tuy nhiên, theo Điểm a Khoản 1 Điều 151 Luật Sở hữu trí tuệ, việc “đại diện cho tổ chức, cá nhân trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về xác lập và bảo đảm thực thi quyền sở hữu công nghiệp” là thuộc phạm vi của “dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp”. Và theo quy định tại Khoản 3 Điều 7 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp thì hành vi “Kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp khi không đáp ứng điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật” sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng (mức phạt này là đối với cá nhân, mức phạt đối với tổ chức là gấp đôi).
Như vậy, quy định trường hợp chủ đơn là cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam có quyền ủy quyền cho cá nhân, tổ chức khác (ngoài tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp) để thực hiện thủ tục đăng ký xác lập quyền theo hướng dẫn tại Thông báo số 13822/TB-SHTT của Cục Sở hữu trí tuệ là chưa rõ ràng và có thể xung đột với Điểm a Khoản 1 Điều 151 Luật Sở hữu trí tuệ, Khoản 3 Điều 7 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP.
Do vậy, kiến nghị Cục Sở hữu trí tuệ cần nêu cụ thể các trường hợp nào thì cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam được ủy quyền cho cá nhân, tổ chức khác không phải tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp phù hợp với quy định pháp luật sở hữu trí tuệ và các quy định pháp luật khác có liên quan.