Hoàng Thị Hiền -
10:30 09/09/2025
Năm 2024, Sở tôi có 1 công chức bị tai nạn lao động (chết) khi đang thực hiện nhiệm vụ. Trong quá trình triển khai chế độ, Sở gặp khó khăn trong việc xác định mức tiền lương làm căn cứ chi trả trợ cấp tai nạn lao động, đặc biệt là các khoản phụ cấp được tính vào mức tiền lương này. Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 về bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động mà không hoàn toàn do lỗi của chính người này gây ra và cho người lao động bị bệnh nghề nghiệp: "Ít nhất 30 tháng tiền lương cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp". Khoản 1 Điều 90 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: "Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác". Tuy nhiên điểm a khoản 2 Điều 5 Thông tư số 28/2021/TT-BLĐTBXH ngày 28/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội lại quy định: "Đối với cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân thì mức tiền lương tháng bao gồm tiền lương cấp bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp (nếu có) liên quan đến tiền lương (phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên nghề, phụ cấp thâm niên vượt khung)". Như vậy, các phụ cấp như phụ cấp khu vực, phụ cấp thu hút, phụ cấp ưu đãi nghề, phụ cấp công vụ, phụ cấp độc hại… có được tính vào mức tiền lương làm căn cứ chi trả trợ cấp tai nạn lao động hay không còn chưa thống nhất giữa các văn bản hướng dẫn. Để bảo đảm việc thực hiện chi trả chế độ trợ cấp tai nạn lao động theo đúng quy định, tôi đề nghị được hướng dẫn rõ các khoản phụ cấp được tính làm căn cứ chi trả trợ cấp tai nạn lao động đối với công chức.
Xem chi tiết