Nguyễn Thị Nghị -
10:05 02/11/2025
Gia đình tôi có thửa đất được gia đình sử dụng ổn định từ trước năm 1972 tới nay. Năm 1986, tôi có đi đăng ký ruộng đất theo Chỉ thị số 299/TTg và được cấp chứng nhận, tuy nhiên do thời gian quá lâu nên đã bị thất lạc. Sổ đăng ký ruộng đất tại cấp xã và cấp huyện cũng thất lạc, không còn lưu trữ. Gia đình tôi chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu đối với thửa đất này. Đất có nguồn gốc do bố mẹ chồng tôi khai hoang từ trước năm 1972, thời điểm đó, bố mẹ chồng tôi đã dựng căn nhà tường trình để ở. Sau đó bố mẹ chồng để lại toàn bộ thửa đất này cho vợ chồng tôi. Theo bản đồ giải thửa, thửa đất có chữ T thể hiện là thổ cư và có diện tích 2.445 m2 (bản đồ được thiết lập từ năm 1991-1992). Đất sử dụng ổn định không tranh chấp. Theo điểm a khoản 1 Điều 138 Luật Đất đai 2024 về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: “Đối với thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống nếu diện tích thửa đất bằng hoặc lớn hơn “hạn mức công nhận đất ở theo quy định tại khoản 5 Điều 141 của Luật này” thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở và không phải nộp tiền sử dụng đất”. Theo Quyết định số 24/2024/QĐ-UBND tỉnh Bắc Giang (cũ): “Trường hợp thửa đất được hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 thì diện tích đất ở được xác định bằng năm (05) lần hạn mức giao đất ở tương ứng với từng vùng, khu vực quy định tại khoản 1, 2 Điều 3 quy định này nhưng không vượt quá diện tích thửa đất đang sử dụng và tối đa 800 m2 (Tám trăm mét vuông)”. Từ các ý trên tôi nhận thấy, với thửa đất có nhà ở sử dụng trước ngày 18/12/1980 thì trong cả hai trường hợp: Thửa đất có giấy tờ theo Điều 137 Luật Đất đai, thửa đất không có giấy tờ theo Điều 138 Luật Đất đai thì “hạn mức công nhận đất ở” đều giống nhau và được quy định theo khoản 5 Điều 141 Luật này. Tôi xin hỏi, cách hiểu của tôi như trên có đúng, phù hợp với quy định của Luật không?
Xem chi tiết